chap 22: Những người sống sót

Mấy ngàn năm xây dựng đất nước và chống giặc Tàu, dân An Nam sớm đã tự thành lối sống riêng không hề bị đồng hóa. Người An Nam mặc dù bị ảnh hưởng sâu sắc văn hóa, ngôn ngữ của nước Tàu, thế nhưng ở bọn họ vẫn toát lên sự bất khuất, quật cường dẫu có qua bao phen bị đàn áp và bốc lột.

Đặc biệt tinh thần dân tộc kiên cường ấy thể hiện rõ nhất qua những trận chiến giành lại chủ quyền những năm gần đây của dân An Nam, mà nổi trội hơn cả chính là trận Bạch Đằng giang do Ngô Quyền thống lĩnh, đã hoàn toàn đánh bật sự cai trị hà khắc của nước Tàu ra khỏi đất An Nam. Về sau này, khi quân Nguyên Mông ba lần tiến quân đánh nước Đại Việt, dân chúng và binh lính mặc dù quân lực ít hơn, trang bị thô sơ hơn nhưng lịch sử lại minh chứng cho điều ngược lại về cái gọi là lấy nhiều áp ít, lấy thịt đè người mà quân lực nước Tàu hầu như đều tin tưởng.

Nhưng nói gì thì nói, cái gốc của chúng ta ít nhiều đã bị biến dạng từ hơn ngàn năm đô hộ của xứ Tàu. Từ việc ăn uống, đi lại, nói năng hay cả đến viết lách, thi cử, tất thảy đều học theo nước Tàu mà ra cả. Trong mắt người An Nam, nước Tàu đã là văn minh rồi, đã tiến bộ rồi, mình chỉ cần học theo, làm theo là được. Bọn họ tin rằng chỉ cần ít nhiều mình cố gắng bằng nước Tàu, thì đó đã là một thành công không nhỏ rồi.

Không biết những nước láng giềng hay ở bên kia đại lục có suy nghĩ như thế nào, nhưng dựa vào văn hóa của người Á Châu, mà dẫn đầu đương nhiên là nước Tàu, để dễ dàng hơn trong việc giao tiếp cũng như ghi chép và thống kê. Người ta, vẫn là những dân tộc chịu ảnh hưởng từ nước Tàu, thường hay đặt lại tên cho những thứ mà họ xem đó là khó nghe, khó đọc. Giả như nước Pháp, được gọi là Pháp Tây Lan, mặc dù người Pháp chưa bao giờ gọi tên nước mình như thế. Hoặc là đất nước của người Britain, được gọi là nước Anh Cát Lợi vậy.

Giải thích cho cặn kẽ vấn đề này, tất nhiên phải đi hỏi mấy ông quan làm sử như ông Ngô Sĩ Liên, hay ông Lê Văn Hưu thì còn có một chút may mắn tìm được đáp án theo ý kiến chủ quan của họ. Còn như một người chỉ biết kể lại những chuyện phiếm lúc trà dư, tửu hậu thì có đến chín phần mười sẽ bị một đầu mờ mịt mà quay về.

Lời mào đầu có vẻ hơi dài để giải thích cho một việc tưởng như bình thường trong văn hóa giao tiếp của người An Nam, thôi thì sẽ được tóm gọn như thế này. Từ nay về sau, để phù hợp với lối sử dụng ngôn ngữ mang phong cách Hán – Việt, chúng ta sẽ tạm gọi Ananda, thằng nhóc mới hơn mười sáu tuổi đầu, vì một lần dại dột trốn lên tàu để ám sát một ông tai to mặt lớn nào đó mà bị hãm vào cảnh thập tử nhất sinh, là A Năng. A Năng nghe có vẻ gần gũi và dễ đọc hơn trong con mắt cảm quan có phần bị che gần hết của chúng ta, cứ xem là vậy đi.

Quay lại tình huống hiểm nghèo mà đám người Nguyễn Kỳ đang đối diện. Hình như đã có người bật khóc, gào thét, hoặc lẩm bẩm khẩn cầu thần phật cưu mang bản thân tai qua nạn khỏi. Đối diện với đám người bị ướt sũng như chuột lột này, là một con quái vật to lớn khủng khiếp, đang nhe nanh múa vuốt chực chờ nhảy bổ xuống. So với nó, kích thước những con người nhỏ bé kia xem ra chẳng đáng để nhét kẽ răng.

Việc gì đến rồi cũng phải đến. Dù chúng ta có sợ hãi mấy đi chăng nữa, dù có muốn trốn tránh hay không, sự thật vẫn không hề thay đổi. Chỉ thấy con quái vật to lớn được tạo bằng hàng trăm, ngàn tấn nước biển ấy bổ nhào về phía những con người đang rơi xuống tận cùng của hố băng tuyệt vọng kia.

Trước mặt bọn họ, trời đất quay cuồng đảo điên, trong tai ù đặc không còn nghe được gì cả. Tri giác trong phút chốc bị tước đoạt hoàn toàn, y như bọn họ thật sự đã chết rồi vậy. Ngoài việc trong tiềm thức vẫn cố gắng duy trì một tia cầu nguyện, thì hầu như đều đã rơi vào trạng thái yên tĩnh cực độ.

A Năng sau một lúc lâu bị nước biển nhồi nặn, quăng lên quật xuống thiếu điều lộn mửa ra hết mật xanh mật vàng thì đầu óc cũng đã lấy lại một chút tỉnh táo. Hắn không biết mình có còn đang ôm khúc gỗ không nữa, bởi lẽ hai tay và hai chân hầu như chẳng còn truyền đến tí cảm giác nào nữa. Cố gắng mở hai mắt đang cực kỳ đau nhức ra, trước mắt chỉ là một màn sáng trắng đục mờ ảo. Bản thân như đang trôi lơ lững giữa một thế giới kỳ ảo được bao bọc bởi một màn trắng sữa mông lung. Hắn cố sức căng mắt ra để nhìn cho rõ, rốt cuộc cũng có thể lờ mờ thấy được gì đó.

Là một bãi cỏ xanh tươi. một ngôi nhà xập xệ được lợp bằng mấy cây thân cây to cỡ bắp tay và lợp bên trên là mấy cái là dừa vàng ố. Xa xa, nơi luống rau xanh mơn mởn, có một bé gái chửng bốn, năm tuổi đang nô đùa chạy chung quanh một người phụ nữ đang dùng một cái gáo dừa tưới chung quanh. Phía bên trái, cạnh con kênh không lớn lắm có một người đàn ông cao lớn đang dùng hai cánh tay rắn chắc đóng thật lực vào một cây gỗ lớn, dường như ông ta đang định làm một cái cầu ván.

Cảnh tượng xem ra vô cùng bình dị và êm đềm. A Năng nhìn xuống bàn tay trái của mình, là một cái ná chim nho nhỏ vừa mới được làm xong, trên đó còn vương lại chút ít nhựa cây đã khô, chuyển dần sang màu nâu sẫm. Hắn hết ngó bản thân, lại đưa mắt dõi theo cảnh vật xung quanh, bất chợt hai hàng nước mắt không kiềm được mà lăn dài trên má. Hắn biết đây là đâu, và những người kia là ai. Hắn đau sót nhìn những khuôn mặt mờ nhạt của bọn họ, dõi mắt nhìn về phương Bắc, nơi đó đang có một đoàn quân lính đen kịt đang rầm rộ kéo tới. Khoảnh trời nơi ấy cũng đang hắt lên những tia sáng đỏ ngầu chết chóc.

Rồi trước mắt A Năng diễn ra tràng cảnh chém giết vô cùng thảm khốc. Dẫu cho hắn có thét gào, vùng vẫy thì như hình ảnh ấy vẫn cứ như ảo ảnh, lướt xuyên qua người A Năng như thể hắn chẳng hề tồn tại. Hắn bất lực nhìn từng người tân của mình ngã xuống trong vũng máu, trong lòng thắt lại đau đơn vô cùng. Cảnh tượng này đã lặp đi lặp lại trong không biết bao nhiêu cơn mơ của A Năng từ ngày ấy cho đến bây giờ.

Trong cơn đau đơn tột cùng ấy, A Năng há miệng gào to, muốn giải tỏa áp lực đang nén chặt trong lòng này. Nhưng, một dòng nước mặn chát lập tức tràn đầy khoang miệng, rồi lao xuống tận cổ họng làm cho A Năng giật mình, hốt hoảng ngậm chặt miệng lại. Vội vàng mở mắt ra nhìn chung quanh, chỉ thấy phía trước đen ngòm tối mịt không thể phân biệt nổi phương hướng.

Khi con sóng khổng lồ lao xuống với tốc độ cực lớn, bởi vì sức ép quá lớn khiến cho A Năng ngất lịm đi. Sau đó bị con nước nâng lên dìm xuống như một miếng bọt biển. Rất may là trước đó A Năng đã buộc chặt thân mình vào khúc gỗ, nếu không giờ phút này hắn đã chìm ngỉm dưới hàng trăm mét nước rồi.

Sau đó là liên tiếp từng trận sóng gió dồn dập tiếp tục kéo tới. A Năng chỉ cảm thấy toản thân như không còn phải của mình nữa, hắn buông xuôi để mặc cho con nước vùi dập ra sao thì ra. Bây giờ hắn đã bất cần đời rồi, cứ mỗi lần một con sóng qua đi, sau khi nổi lên mặt nước lần nữa thì A Năng hắn ngoác miệng chửi lớn, như muốn xả hết cơn bực tức ở trong lòng. Chửi mãi cho đến khi môi khô, lưỡi đắng, hai mắt mỏi mệt, A Năng lại thiếp đi giữa dòng nước đang không ngừng trồi lên hụp xuống.

Không biết trải qua bao lâu, đến khi trong bụng cồn cào, truyền đến những tiếng lục bục khó chịu thì A Năng mới giật mình tỉnh lại. Vội vàng xem xét chung quanh, thấy sóngbiển tuy vẫn còn dập dềnh liên hồi nhưng đã không còn nét bạo ngược như trước. Bấy giờ, A Năng mới thở hắt ra một hơi, hồi tưởng lai quá trình mình vừa trải qua vừa rồi mà trong lòng không khỏi cảm thấy lạnh lẽo, thầm cám ơn thần phật phù hộ đã giữ lại cái mạng nhỏ của mình.

A Năng bơi loạn xạ một hồi, trong miệng vẫn gào thét thật to, ý muốn tìm kiếm những người còn may mắn sống sót như mình.

Trong tình cảnh trớ trêu như thế này. Hình như ông trời cũng bớt khắc nghiệt với người ta hơn thì phải. Cho nên bơi không được bao lâu, A Năng đã thấy có mấy điểm đen đang không ngừng dập dềnh trên mặt biển, bọn cũng đã phát hiện ra hắn, đang vẫy tay ra hiệu để cùng tập hợp lại với nhau. A Năng vui mừng vì trong số những người ấy cũng có Nguyễn Kỳ, ông vẫn bình yên. Nguyễn Kỳ cũng buộc chặt thân mình vào một khúc gỗ khác, tay trái đang giữ chặt lấy một người đàn ông, là Lê Tín, hình như ông ta còn chưa tỉnh lại. Bơi bên cạnh là Thái Thượng Hoàng, tuy trên mặt còn vương chút nét trắng bệch nhưng hầu như đã không còn việc gì đáng ngại.

Lê Tìn trong lúc bị dòng nước cuốn đạ va đập vào một cây cột buồm lớn, làm bao nhiêu dưỡng khí đang nén trong lồng ngực bị tống ra ngoài cho bằng hết, đồng thời cũng ngất luôn tại chỗ. Cũng nhờ không khí bị tống ra hết nên Lê Tín mới có thể giữ đượng mạng sống, nếu không thì cũng đã bị áp lực to lớn ấy ép cho vỡ phổi mà chết rồi. Ông ta chỉ dãy dụa được một tí thì hôn mê, may mắn là Nguyễn Kỳ cũng đang bị cuốn trôi gần đấy, nhanh tay vươn ra chụp vào thắt lưng Lê Tín, mới giữ lại được một mạng cho vị tướng quân khinh người này. Một người trong hoàn cảnh ngàn cân treo sợi tóc như vậy, vẫn đủ tỉnh táo để cứu người thì dủ biết bản lĩnh của Nguyễn Kỳ so người bình thường khác biệt như thế nào rồi.

Ngoài A năng, còn có thêm mấy người nữa đang bơi về hướng này, tình cảnh nhếch nhác thảm thương vô cùng. Tổng quân số trên năm con tàu lớn cũng vượt quá trăm người, vậy mà sau cơn càn quét qua đi, số người còn tiếp tục may mắn hít thở chỉ vỏn vẹn chưa đến mười người.

Lúc này đây, một sự uy hiếp khác cũng trầm trọng không kém đang bủa vây tâm trí mọi người, chính là cơn khát đang giày vò nơi cổ họng. Bởi vì không ai kịp chuẩn bị gì cả, khi bị đánh bvăng ra khỏi thuyền thì điều duy nhất bọn họ nghĩ đến là cố gắng giữ cho mạng sống của mình không mất, những việc khác không còn kịp nghĩ nhiều.

Chín con người, lênh đênh trên biển vô định như thế này thì chỉ cần qua hai ngày là sẽ bị mặt trời hun cho thành xác khô, đi đời nhà ma cả. Tuy rằng chung quanh không hề thiếu nước, nhưng trớ trêu là càng uống càng chết nhanh hơn. Sự uy hiếp này dần dần chiếm lấy não bộ của từng người, làm cho ai nấy không kìm được rét run lên.

Cơn bão tới nhanh mà đi cũng nhanh, chỉ sau một chốc lát đã sóng yên biển lặng. Biển xanh lần nữa hiện ra trước mắt mọi người. Gió nhẹ hiu hiu thổi, những con sóng chỉ cao cỡ gang bàn tay nhẹ nhàng vỗ về. Nắng lại lần nữa chiếu rọi từng chùm tia vàng óng xuống thế gian, tuy vậy nhưng trong lòng mọi người lại vô cùng ảo não, chẳng có ai buồn quan tâm đến cảnh đẹp trước mắt. Một khi không có cái ăn cái uống, đói khát đến cùng cực thì cảnh đẹp phỏng có ích gì?

Lúc này Nguyễn Kỳ mới lên tiếng:

– Các anh em. Hiện tại chúng ta bị vây giữa biển lớn như thế này, nhưng vẫn chưa hết hy vọng đâu. Đội tàu đi trước ở hướng Nam sau khi thấy cơn bão tan đi ắt hẳn sẽ quay lại đây tìm chúng ta. Có điều hiện giờ ta đang mất phương hướng, có lẽ phải đợi đến tối mới có thể dựa vào sao trời để xác định phương hướng thôi. Mọi người đừng lo, cơn bão ở đây tan nhanh như vậy, phỏng chừng sẽ sớm thôi chúng ta sẽ hội họp cùng nhau.

Tuy biết rằng nguyễn Kỳ đang vẽ bánh bao trên giấy, nhưng ai nấy khi nghe được lời động viên này thì cũng đã lấy lại được phần nào tinh thần.

Trong số những người còn sống sót này, tất nhiên người quan trọng nhất vẫn là Thái Thượng Hoàng. Hầu như ông ta đã trở thành trung tâm của sự quan tâm chăm sóc rồi. Nhưng vẫn có một đôi mắt lạnh lùng được che dấu rất kỹ đang không ngừng theo dõi từng hành động của Thái Thượng Hoàng. Tất nhiên Nguyễn Kỳ biết rõ ánh nhìn ấy xuất phát từ đâu, ông lựa lúc mọi người không chú ý, mới quay lại ra dấu ý bảo A Năng không được có bất cứ hành động dại dột nào.

Tuy nói có thể dựa vào mặt trời, mặt trăng để xác định phương hướng trên lý thuyết thì không sai. Thế nhưng ở một nơi bao la, rộng lớn như ngoài biển thế này, nhìn vào mặt trời để tham chiếu vị trí thì chắn chắc không bao giờ chính xác được. Những người đi biển lâu năm, không ai không biết. Còn một kỹ thuật xác định phương hướng khác chính là dựa vào sao Bắc Đẩu mà từ lâu đã được người Trung Hoa đã áp dụng. Phương pháp này thì chỉ có môt số ít người biết đến mà thôi. Chính là dựa vào góc độ của sao Bắc Đuẩ, người ta có thể tính toán đại khái xem mình đang ở vị trí nào trên biển, và cách đất liền khoảng bao xa. Phức tạp như vậy, cho nên chỉ có mốt số hoa tiêu dày dạn kinh nghiệm và biết đọc sách thì may ra mới có thể nắm bắt được.

Cả đoàn người bơi hơn hai canh giờ thì mặt trời bắt đầu lặn về đằng Tây. Ánh dương đỏ ối nhanh chóng bị thay thế bởi mặt trăng sáng vằng vặc. Mặt trăng trông chẳng khác nào một mặt trời thứ hai cả, chỉ có đều nó đang tỏa ra từng tia sáng lành lạnh mà thôi. Đêm nay, dường như chị Hằng biết rằng có một nhân vật quan trọng bậc nhất của đất An Nam sẽ quá bộ tới đây, cho nên chị hồ hởi phô bày hết tất cả vẻ đẹp của mình ra. Mặt biển dưới nhan sắc rạng ngời của chị mà tỏa sáng lấp lánh.

Cảnh đẹp trước mắt làm cho ai nấy vừa nao nao lại vừa trầm muộn không thôi. Dưới sắc đẹp rạng ngời của chị Hằng, tất cả sao trời chi như những đốm lửa li ti, đều bị lu mờ khuất lấp.

– Đúng là phúc bất trùng lai, họa vô đơn chí. Hôm nay lại đúng Rằm. Trăng sáng vằng vặc thế này thì không thể xác định phương hướng theo sao trời được rồi.

Nguyễn Kỳ vừa lắc đầu quầy quậy, vừa ra hiệu cho mọi người bơi theo hướng của mình. Dù sao thì vẫn phải xác định phương hướng để tiến lên phía trước, thôi thì bọn họ áp dụng biện pháp chiết chung, là dựa vào mặt trăng, kết hợp với những kinh nghiệm hàng hải của Nguyễn Kỳ mà chậm rãi bơi tiếp. Ai nấy đều thầm tự oán trách bản thân mình xui xẻo thôi.

chap 21: Nguy ngập

Cả đội tàu do Nguyễn Kỳ thống lĩnh đang nhanh chóng bẻ bánh lái, trực chỉ hướng Nam thẳng tiến. Chỉ có đội tàu do Lê Tín là vẫn còn đang chần chừ nghi hoặc. Lúc này Lê Tín đang vô cùng tức giận, hai tai đỏ bừng, không ngừng la lối, dậm chân thình thịch chửi rủa Nguyễn Kỳ và bọn dân đen ngu xuẩn.

“Bẩm tướng quân. Đội tàu do Nguyễn Kỳ dẫn đầu đang chuyển hướng, dường như bọn chúng đang muốn di chuyển sang hướng Nam.”

Một tên lính đang quỳ một gối trên sàn tàu bẩm báo với Lê Tín.

“Mẹ cha cái thằng dân đen ngu xuẩn. Nhà ngươi coi bổn tướng quân không ra gì phỏng? Muốn thay đổi lộ trình mà phải dựa vào cái thứ dân đầu óc bã đậu thì làm sao mà không chết cho được.”

“Tín tướng quân này. Bọn họ đều là ngư dân thông thạo biển lớn, hành động như vậy ắt có nguyên do. Ta thấy hay là chúng ta cứ đi theo họ trước vậy.”

Thái Thượng Hoàng đang ngồi trên một cái ghế lớn trầm tĩnh nói với Lê Tín.

Lê Tín khom người nói một tràng dài:

“Khởi bẩm Thái Thượng Hoàng. Bọn dân đen kia không biết có phải vì gặp bão mà lú lẫn đến hỏng mất não rồi hay không? Cơn bão đến từ hướng Đông Nam kia là không nghi ngờ gì nữa, mà chúng ta vừa mới thoát khỏi vùng ảnh hưởng của nó, nếu bây giờ chuyển sang hướng Nam, như vậy không phải là lại đi vào vùng lân cận của cơn bão hay sao ạ? Mà có khi còn hãm sâu vào trung tâm cơn bão, lúc đó thì nguy to lắm.”

Thái Thượng Hoàng nghe thế thì gật gật đầu, có phần đồng ý với ý kiến của Lê Tín.

Lê Tín lúc này mới nói với một tên lính bên cạnh:

“Nhà ngươi mau triệu tên Nguyễn Kỳ kia qua đây. Nói là lệnh của bổn tướng quân. Muốn hỏi xem cớ làm sao phải đổi phương hướng xoành xoạch như vậy? Có phải là coi thường bổn tướng quân, coi thường Thái Thượng Hoàng có phải hay không?”

Tên lính kia dạ ran, sau đó xoay lưng đi khỏi. Tuy nhiên trong cảnh sóng gió thế này, làm sao có thể thông báo ngay lập tức cho được cơ chứ?

“Hừ. Để xem. Phen này ông đây phải phạt thật nặng tên dân đen kia. Cho chừa cái tội dám lấn át thể diện của bổn tướng quân trước mặt Thái Thượng Hoàng.”

Lê Tín trong lòng đắc ý lắm. Trong lòng đang thầm tính toán những biện pháp để trừng phạt Nguyễn Kỳ.

Cũng đúng, Lê Tín kia là ai chứ? Thật chẳng phải hạng vô danh tiểu tốt, để người ta dễ dàng đùa bỡn. Từ năm hai nhăm tuổi, Lê Tín đã được bổ nhiệm làm thống lĩnh của một tiểu đội tàu chiến với hơn năm chiến thuyền hạng nhẹ, trực thuộc quản lý của Phó Đô tướng Trần Khánh Dư. Cũng đã cầm gươm giết địch tại trận Vân Đồn, tuy rằng công lao chẳng đáng bao nhiêu, nhưng luận công ban thưởng, nâng phẩm bậc đã là việc vinh quang nhất trong đời Lê Tín rồi.

Vào lúc này, tất cả các tàu còn lại bên đội Nguyễn Kỳ, đã chuyển bánh lái và di chuyển nhanh về hướng Nam, khoảng cách so với nơi này đã ngày càng xa. Chỉ còn lại mỗi tàu của Nguyễn Kỳ là vẫn phải nán lại để đốc thúc đội tàu do Lê Tín quản lý. Thống lĩnh Lê Tín thấy vậy ngứa mắt lắm, nhưng vẫn chưa có cơ hội phát tác.

Nguyễn Kỳ trong lòng lo lắng như thế nào thì không cần phải nói. Đứng phía duôi tàu không ngừng phát tín hiệu bằng cử chỉ về phía đội tàu của Lê Tín.

Nhưng ông trời nào cho người ta nhiều thời gian để dông dài như vậy. Sau khi hé lộ một chút dấu hiệu, để những kẻ thông minh biết khó mà lui ra xa. Rồi thì ông bắt đầu nổi trận lôi đình. Bộ dáng như muốn dời sông lật biển, tan vàng nát ngọc. Ông lật tay làm mưa, ngửa tay làm giông, gào thét đầy cuồng nộ. Năm con tàu bao gồm bốn tàu chiến loại lớn của Lê Tín và tàu Nguyễn Kỳ, xem ra chẳng khác gì năm con kiến nhỏ đang chao đảo trong chảo dầu khổng lồ.

Lê Tín lúc này mặt vàng như nghệ, hai môi trắng bệch không con chút máu. Hắn liều mạng bám riết vào một cột buồm, ra sức hò hét binh sĩ mau chuyển bánh lái. Tuy thế, trong cơn mưa sa gió giật như thế này, đến tiếng của mình Tín tướng quân còn chẳng thể nghe rõ thì nói chi đến những người chung quanh.

Con tàu bị nâng lên dìm xuống chẳng khác nào một chiếc là vàng rách nát đang bị cuốn vào giữa dòng nước xiết. Toàn thân tàu vang lên từng trận kẽo kẹt, truyền vào tai mọi người đều làm cho lông tóc tất cả dựng đứng cả lên. Bên tai chúng binh sĩ bây giờ chỉ còn lại là những tiếng ầm ầm không dứt, kèm theo tiếng gãy vỡ của từng mảnh ván tàu. Buồm chính buồm phụ sớm đã rách nát không còn hình dáng ban đầu, một trong ba cột buồm chính cũng đã không biết bị mạnh mẽ giật ra và ném đi nơi nào rồi.

Thình lình một cột sóng lớn như một quả núi lừng lững hiện ra trước mặt mọi người. Con sóng này phải cao gấp bảy, tám lần chiều dài của con tàu. Khi cột sóng dựng lên, trong tai Lê Tín truyền đến hàng loạt tiếng rin rít cực kỳ bén nhọn, không còn phân biệt nổi đó là tiếng gió rít hay là tiếng nước nữa, nhưng chỉ dựa vào cường độ của âm thanh đó thì cũng đủ biết con sóng này đủ sức san phẳng cả một bến cảng trong chưa đầy một cái hô hấp. Bóng đen to lớn này dường như bao trùm tất cả không gian phía trên đầu của năm con thuyền, tất cả mọi người trông thấy cảnh này đều sợ hãi đến mức cứng đờ cả người ra, mọi động tác đều bị đình chỉ.

“Sóng thần đấy. Tất cả bám chặt vào thành tàu…”

Không biết là tiếng thét lớn đến lạc cả giọng của ai đã phát ra. Nhưng giờ phút này thì có gào thét, khóc lóc cũng đã muộn rồi.

Tử thần đang buông bàn tay xương xẩu của mình phủ xuống nhân gian, tỷ lệ phần trăm sống sót của tất cả mọi người ở đây đã giảm xuống chỉ còn một con số.

Hung thần khổng lồ chỉ mất một chút xíu thời gian để trình diễn, rồi rốt cuộc cũng đã giáng cơn thịnh nộ xuống. Bên tai mọi người vang lên hàng loạt tiếng răng rắc gãy vỡ, tiếng ầm ầm chấn động và gào thét thảm thiết. Rồi bỗng chốc trời dất đảo điên, dưới chân bọn họ không còn điểm tựa nữa, mọi thứ đều quay cuồng hỗn loạn. Trước mắt chỉ thấy tối sầm lại, thân thể cứ như bị một sức mạnh khổng lồ lôi đi không thương tiếc. Bọn họ chỉ còn biết bất lực liều mạng mà bám viếu. Họ đã không còn quan tâm là mình đang bám vào cái gì, hay bám vào ai, chỉ biết rằng nếu có chút sơ xẩy lơi lỏng tay, thì chắc chắn sẽ đi thẳng đến nơi Diêm Vương đang ngồi rung đùi điểm danh.

Ananda trước khi bị dòng nước biển lạnh toát cuốn đi thì đã kịp ôm chặt vào một xúc gỗ lớn vừa bẻ ra được từ thành tàu. Chỉ thấy trước mắt là nước biển đen ngòm cùng vô số bọt khí. Dẫu là đang bị cuốn vào giữa lòng biển khơi nhưng hắn lại chẳng dám nhắm mắt lại chút nào. Chung quanh dường như chỉ còn lại mỗi mình hắn, mặc dù số người trên tàu lúc ấy cũng không ít.

Khi bị cuốn xuống đáy sâu, sự thay đổi nhiệt độ đột ngột làm Ananda không tự chủ được rùng mình một cái, một ít dưỡng khí đang tích trong ngực bị dồn ép theo đó mà trào ra. Cho nên đến lúc này, dẫu Ananda là một tay bơi lội không kém, thì cũng đã bắt đầu thấy ngộp thở khó chịu. Hai lá phổi bỏng rát, căng tức. Theo vô thức hắn mở miệng ra, thế là òng ọc không dứt một luồng nước biển mặn chát xông thẳng vào cổ họng.

“Mà cái khúc gỗ chết mẹ này cớ làm sao cứ chìm mãi thế nhỉ? Mẹ tiên sư, không lẽ ôm nhằm khúc gỗ mun? Nếu thế thì bận này toi cơm rồi.”

Khổ nổi khi nãy hắn đã buộc chặt mình với khúc gỗ, giờ có muốn tháo ra cũng mất một phen mệt mỏi đây. Mà không chừng còn chưa kịp tháo nút thắt ở lưng thì đã ngỏm củ tỏi rồi.

Trong lòng Ananda vô cùng ảo não, thầm than trách số phận nghiệt nỡ lòng nào lấy đi mạng sống của một thằng nhóc còn chưa quá mười bảy như hắn. Thật sự là bất công quá.

Đến khi chuẩn bị nhắm mắt chờ chết thì rốt cuộc khúc gỗ mới nặng nề trồi lên khỏi mặt biển. Ananda vội vàng hít lấy hít để. Sóng biển lúc này vẫn còn ầm ầm rung động không ngừng, có vẻ như bây giờ cơn bão mới chính thức đi vào khu vực của bọn họ. Trong lúc hớp lấy từng chút không khí quý báu, thì nước biển cũng theo đó lùa vào mũi miệng của hắn. Ananda không nhớ rõ mình đã uống bao nhiêu nước biển rồi, chỉ biết cứ mỗi lần hớp lấy ngụm không khí nào, thì cũng đồng thời có nước biển từ trong miệng và mũi trào ra ròng ròng, chứng tỏ dạ dày đã căng đầy nước biển rồi.

Ananda biết nước biển dù sao cũng là nước, nhưng lại không giải khát được. Cho nên cố hết sức nôn cho hết số nước biển đang óc ách trong dạ dày. Cảm giác vừa mặn chát, vừa chua nóng trào ra khỏi cổ họng, qua khoang mũi khó chịu không sao tả được. Dẫu rằng từ khi biết đi biển đến bây giờ, Ananda không hề lạ lùng gì cái vị này, nhưng vẫn không thể chịu đựng cái cảm giác khó chịu đang giày vò nơi cuống họng.

Sau khi đã bình tĩnh được phần nào. Lúc này Ananda mới phóng tầm mắt ra xung quanh để tìm kiếm xem còn có ai sống sót như mình nữa hay không, dù sao thì có đồng đội hỗ trợ lẫn nhau vẫn tốt hơn cô đơn một mình giữa biển lớn mênh mông như thế này. Chỉ thấy chung quanh sóng to rợp trời, bọt nước tung tóe hòa cùng tiếng gió rít gào, sấm chớp trắng lóa nổ đùng đùng không dứt. Gỗ vụn nổi dập dềnh nhiều vô số, trên biển không có lấy một tấm gỗ nào còn nguyên vẹn, nhìn tình hình này thì đa phần những thủy thủ trên tàu lành ít dữ nhiều rồi.

“Thầy. Thầy ơi…”

Ananda gọi khản cả cổ họng mà vẫn không nhận lại được bất kỳ hồi âm nào. Trong lòng đang âm thầm lo lắng. Hắn tin rằng bằng vào bản lĩnh của mình thì Nguyễn Kỳ tất nhiên sẽ không có việc gì, chắc chỉ đang trôi nổi ở một nơi nào đó thôi. Dù sao lúc này tiếng sóng ầm ầm cùng rin rít của gió bão thì dẫu có hơn hục người cùng gào thét thì kết quả cũng không có bao nhiêu tác dụng.

Ananda hắn nói gì đi nữa cũng chỉ là một thằng nhóc mới mười sáu, mười bảy tuổi đầu. Kinh nghiệm qua những lần bão biển như thế này còn chưa có trải qua, cho nên hốt hoảng là đều không thể tránh khỏi. Hắn cứ ngỡ rằng hiện giờ chỉ còn mỗi mình hắn may mắn sống sót, thân thể thì đau nhức, trí óc trì trệ cùng hoảng loạn làm cho bao nhiêu bài học thường ngày Nguyễn Kỳ dạy cho đều trôi tuột theo dòng nước cả.

Khắp chung quanh trời sầu đất thảm, sóng biển cuộn trào bọt sóng tung tóe như lò vôi sôi, nếu nói đây là chảo dầu nơi địa phủ cũng không sai tí nào. Họa chăng là phép lạ mới có thể tồn tại được ở nơi đây.

Nhưng rồi từ nhiều phía khác nhau cùng vang lên tiếng gọi nhau, tiếng thét gào. Thức tỉnh Ananda khỏi cơn sợ hãi. Vài nhóm người lần lượt xuất hiện trong tầm mắt của hắn, xem ra số lượng cũng không ít.

Tuy cả năm con tàu lớn đều đã bị đánh cho tan tành, thế nhưng người trên tàu ai ai đều không phải là hạng thủy thủ lão luyện? Cũng là những nhân vật được tuyển chọn hết sức khắt khe, nghiêm ngặt. Bởi lẽ chuyến đi lần này vô cùng nguy hiểm, cho nên mỗi cá nhân đều phải có bản lĩnh cứng cáp và năng lực thành thạo thì mới có đủ tiêu chuẩn vượt qua xét tuyển.

Dù vậy, như số người con sống sót trên biển lúc này cũng không vượt quá năm phần tổng nhân số của cả năm con tàu gộp lại.

Sau khi hội họp cùng nhau hỏi thăm qua loa tình trạng của tất cả. Mọi người mới bắt đầu đưa ra quyết định sẽ di chuyển theo hướng nào để có thể trong thời gian ngắn nhất tập trung với những tàu khi trước của đội Nguyễn Kỳ, đã nhanh hơn tránh được phạm vi ảnh hưởng của cơn bão.

Tất nhiên người được ủy thác làm hoa tiêu vẫn phải là Nguyễn Kỳ. Mọi người lúc này không còn ai nghi ngờ gì nữa về khả năng chỉ huy và óc phán đoán tình huống của Nguyễn Kỳ. Chỉ có khi người ta bị vả cho một vố đau đến rớt cả răng, thì mới chịu tin rằng đi ngược lại với điều đúng đắn chính là gánh lấy cái thiệt vào thân.

Lê Tín và Nguyễn Kỳ hiện đang bơi bên cạnh Thái Thượng Hoàng. Ngay cả khi được thị vệ nội cung tinh nhuệ võ nghệ bảo vệ trùng trùng thì ngài vẫn không tránh khỏi bị thương một chút. Tuy rằng không toát đầu chảy máu nhưng cũng bị ngất lịm đi một khoảng, may nhờ có Lê Tín liều mạng thả khúc gỗ đang ôm trong tay để bơi theo cứu được, nếu không có lẽ giờ này Thái Thượng Hoàng đã quy tiên rồi.

Có thể nói Ananda là một trong những người may mắn nhất trong đội. Ngoài việc chỉ uống một bụng căng đầy nước biển ra thì trên người hoàn hảo không có lấy một vết trầy xước. Bên mấy người khác thì không bông gân, cũng gãy tay, sứt đầu mẻ trán, thê thảm vô cùng. Về phần những thị vệ bên cạnh Thái Thượng Hoàng, hiện tại không còn thấy bóng dáng một ai. Có lẽ sau khi đã hoàn thành chức trách của mình, bọn họ đã được Đức Phật độ hóa cả rồi, từ rày không cần phải làm kiếp tôi mọi khổ sở nữa.

Nhưng còn chưa kịp vui vì cuộc tụ họp, bên tai mọi người bỗng truyền đến một tiếng hét lớn:

“Cẩn thận đấy. Sóng thần lại tới nữa kìa.”

Mọi người nhanh chóng nhìn lại, rồi sắc mặt ai nấy cũng nhanh chóng xám xịt đi.

Chỉ cảm thấy nước biển chung quanh thân thể như bị một lực hút vô cùng khủng khiếp rút đi. Mọi người không thể làm chủ được, cũng bị kéo trôi tuột theo dòng nước thật mau, hoàn toàn vùng vẫy trong sự bất lực.

Lúc này đây, lấy vị trí của bọn họ làm trung tâm, một con sóng khổng lồ cao không thể ước lượng được đang dần hình thành. Cứ như thể đó là một con quái vật khổng lồ to như trái núi đang chuẩn bị từ dưới mặt biển ngóc đầu lên vậy. Quả đúng là một con quái vật khổng lồ, nó điên cuồng gầm rú, nó tàn phá tất cả những gì đang chắn trước mắt nó, sự điên cuồng này không biết bao giờ mới chịu dừng lại. Chỉ biết rằng những người đang tồn tại dưới con mắt đỏ ngầu kia đang mang một sắc mặt trắng bệch không còn chút máu.

Đã có người bật ra tiếng khóc nức nở, có người nhắm tịt hai mắt và lẩm bẩm cầu nguyện, bọn họ đang rơi vào hố băng sâu thẳm nhất của sự tuyệt vọng. Dẫu là vậy nhưng ai nấy cũng đều yêu quý mạng sống của mình, dẫu chỉ còn le lói một tia mỏng manh thôi, nhưng không ai lại không bấu víu vào. Bọn họ không cần phải được nhắc nhở, đều ôm chặt lấy khúc gỗ của mình, rồi bắt đầu chờ đợi vị hung thần này giáng xuống.

Ảo tưởng – chương 1

Hà Nội, một ngày nắng đẹp vàng ươm, làm mấy giọt sương đọng trên những chiếc lá còn vương vấn chưa tan ánh lên những tia long lanh bảy màu đầy quyến rũ.

Chim chóc thi nhau chuyền cành líu lo, ríu rít, trông vô cùng vui nhộn thích mắt. Những con chim này đa phần là se sẻ, cũng bới chỉ có se sẻ là chẳng có mấy giá trị kinh tế, thành ra người ta có muốn đặt bẫy cũng đắn đo số tiền mình phải bỏ ra để bẫy được một con sẻ. Chẳng bằng bọn họ dùng mồi bẫy ấy, đi bẫy vàng anh, chim oanh thì hẳn sẽ dễ bán hơn. Cho nên chim sẻ ở đây dẫu không dám nói là vô tư phát triển, nhưng nếu so với những giống chim khác hầu như đã bị bắt gần hết thì chim sẻ vẫn là giống chim chiếm thị phần to lớn nhất về số lượng ở đây.

Vào những ngày giữa mùa hạ ở Hà Nội này, nếu có ai còn ca thán về việc tại sao mình không có được một ngày nghỉ cho trọn vẹn để có thể cùng gia đình đi du lịch ở Hạ Long hay Nha Trang thì quả người đàn ông làm chủ cái gia đình ấy đã bị đánh giá là thất bại rồi. Chung quanh ai chẳng thế, nếu mình không giống với bọn họ, thì tất nhiên không ít cũng nhiều sẽ bị những ánh mắt khinh rẻ, coi thường quét qua quét lại vài lần

Ngoài phố, từng dòng người tấp nập chen chúc nhau dưới cái nắng. Họ chở con đi học, họ tất bật đi đến cơ quan, đến trường học, hoặc chỉ đơn giản đi đâu đó. Mọi người không ai bảo ai, cứ lầm lũi điều khiển chiếc xe, bấm còi tin tin inh ỏi khi gặp khúc tắc đường, kẹt xe. Dẫu rằng mỗi người trong số bọn chỉ cách nhau chưa quá 5cm, nhưng hầu như chẳng ai thiết tha mở miệng nói chuyện với nhau câu nào. Thành ra không gian tuy vô cùng nhộn nhịp nhưng chẳng hề có chút ấm áp tình người nào.

Mà ấm áp được nỗi gì trong khi cái nắng trên đầu vẫn cứ liên tục làm da đầu đang đội dưới cái nón bảo hiểm bằng nhựa cứng của người ta ngứa râm ran. Bực bội và nóng nực càng khiến người người dễ nổi nóng hơn, dù chỉ cần một chút đụng chạm nhỏ nhặt.

Tuy thế, nhưng cái nhộn nhịp bên ngoài vẫn làm Việt thèm khát hơn bao giờ hết. Đây là lần đầu tiên Việt cảm thấy thèm khát cái tự do ngoài kia.

Việt bắt đầu ước, ước rất nhiều, thậm chí không ít lần nhắm chặt hai mắt để tưởng tượng rằng bản thân mình có thể dùng ý chí để thay đổi thời gian và hoàn cảnh.

Việt lúc này cũng đang hiện diện trên đường, cũng đang lâm vào tình trạng kẹt xe có đến hơn hai mươi mấy phút mà chưa nhích được quá chục mét. Chỉ có khác một điều là Việt đang ngồi trong xe, chứ không phải đội đầu dưới cái nắng chan chát ngoài kia để cùng bực bội theo bọn họ.

Nhưng Việt hiện giờ có thoải mái hay không?

Chắc chắn là không rồi. Đang ngồi hai bên trái phải của Việt hiện giờ là hai người đàn ông vóc người to lớn, bụng to đùng như có chữa tháng thứ ba. Trên đầu vai chiếc áo dày cộm của bọn họ có gắn mấy cái huy hiệu vàng vàng gì đấy, mà theo quy chế trong ngành thì dựa vào hình dáng và số lượng của những huy hiệu này để người ta làm cơ sở phân chia cấp bậc, phẩm hàm.

Việt tất nhiên là không biết hai ông này có cấp gì và phẩm gì. Nhưng có một điều rõ ràng rằng hiện tại hai ông này chịu trách nhiệm quản lý không gian hoạt động của Việt từ bây giờ cho tới Tòa Án Nhân Dân quận B.Đ.

Ông to béo bên trái sau khi quệt mồ hôi trên trán một cái thì lầm bầm chửi:

– Mẹ cha cái đám dân đen. Cớ làm sao cứ phải nhè con đường này mà chui rúc vào nhỉ? Nóng nực bực bội mà còn gặp phải cái đám này, thử hỏi có điên tiết không cơ chứ?

Ông bên phải có vẻ trầm tĩnh hơn, lên tiếng nhắc nhở:

– Này. Ăn nói cho cẩn thận đấy. Thời buổi công nghệ, người ta quay phim, ghi âm lúc nào thì ông không biết được đâu. Mở miệng ra là chửi rủa. Coi chừng có ngày bị kiểm điểm, xếp loại cuối kỳ không đạt lại đổ trách nhiệm cho tôi là không xong đâu đấy.

– Hề hề. Chửi mấy câu ấy mà. Có chết ai đâu. Mà ông nói xem, nóng cha chả thế này mà cái bọn “quần chúng” ấy vẫn có thể kiên nhẫn bóp còi inh ỏi ngoài kia cho được, kể cũng tài thật. Tôi thì tôi chịu đấy.

– Hừ. Tắc đường như vậy thì có gì ghê gớm. Ông chưa biết chứ cái hôm xe bồn của Thành Phát gây tại nạn với chiếc FuJi, toàn bộ giao thông ở đấy tắc nghẽn hoàn toàn hơn bốn tiếng đồng hồ. Tôi bị điều đi hỗ trợ bọn giao thông, phải huơ gậy đến mỏi nhừ hai cái vai mới dẹp yên được đám hổ lốn ấy đấy. Mà khi ấy máu me chảy ròng ròng trên đường, có cả óc ác, phèo phổi người ta dọn không kỹ bốc mùi tởm lợm bỏ mẹ. Tôi phải mất hơn tuần lễ cho mấy em tẩm quất mới giải tỏa hết ám ảnh hôm ấy. Thật là …

Ông bên phải vừa kể vừa lắc đầu quầy quậy khi miêu tả lại cảnh tượng sau vụ tai nạn hôm trước.

– Mà nhóc này. Chú mày mới tí tuổi đầu, không lo ăn chơi mấy cái khác cho sướng đi, tự dưng chơi đá làm chi để giờ ngồi đây. Hừ cũng may ông già chú cũng là chỗ quen biết với bọn anh, cho nên mới được biệt đãi như thế này đấy. Mấy đứa khác là no đòn từ ngày mới đầu vào rồi, không có được may mắn như chú đâu.

– Ờ, kể cũng phí thật. Nếu bố anh mà làm có bí thư như bố chú mày, anh đây cũng chẳng cần phải đi làm cái nghề tôm tép này đâu. Bên ngoài nhìn oai lắm mà bên trong nó nát bét cả ra rồi, ra ngoài đường bị dân nó lườm lườm liếc liếc tức không chịu được. Mà anh có làm gì sai đâu chứ?

– Chứ còn phải hỏi? Mấy ông to trên kia đè đầu cưỡi cổ ra sao? Anh em mình nào có sơ múi được tí gì đâu. Vậy mà vẫn bị dân nó thù như phát xít.

– Mà hình như bà già chú cũng chẳng phải hạng xoàng nhỉ? Nghe đâu là chủ tịch hội phụ nữ quận B.Đ cơ đấy. Nhà có gốc gác hẳn hoi quả cũng sướng thật.

Việt chỉ lẳng lặng ngồi nghe, từ nãy đến giờ vẫn im thin thít. Thi thoảng mới ghé mắt qua chắn song sắt để nhìn ra ngoài rồi tưởng tượng, ước ao mấy điều tưởng chừng như ngày thường chẳng bao giờ Việt để ý đến.

Chín giờ hơn, chiếc xe bít bùng dễ có đến hơn ba mươi tuổi mới lếch thếch lăn bánh đến bãi đậu xe của tòa.

Hơn hai mươi phút nữa phiên tòa mới bắt đầu. Nhưng người ta đã đến đây từ rất sớm. Đứng, ngồi chật kín cái sảnh gạch men phía trước tòa án.

Từ mội bên sảnh lớn, một người phụ nữ ăn mặc có vẻ quý phái, tầm bốn mươi tuổi tất tả vén quần chạy ra. Vừa đến gần Việt đã niềm nở nắm tay, rồi nhẹ nhàng khuyên nhủ:

– Con yên tâm. Vụ này cứ để mẹ lo. Con chỉ cần chịu khó ít hôm nữa thôi. Cố lên con trai của mẹ.

Nói được vài câu thì thầm còn chưa hết ý thì từ trong đám đông ấy cũng lao ra một người phụ nữ khác lớn tuổi hơn, hai tay đang ôm một tấm hình trắng đen mà người trong hình còn trẻ và khá xinh xắn. Bà này cũng chạy đến bên Việt nhưng lần này lại gào lên:

– Trả mạng cho con tao. Thằng khốn nạn. Con khốn nạn. Cả nhà chúng mày đều là lũ khốn nạn. Bọn mày không được chết yên đâu.

Một tay người phụ nữ này ôm chặt khung hình, một tay hết chỉ người phụ nữ sang trọng kia, lại chỉ vào Việt, miệng thì gào khóc nức nở không ngớt. Hai anh cảnh sát hộ tống Việt phải lao vào can ngăn mãi người này mới chịu dịu xuống, nhưng vẫn không ngừng chửi rủa những câu thậm tệ.

– Hừ, con mụ nhà quê mà dám dùng lời lẽ ti tiện như vậy để mạt sát bà à? Để rồi xem, sau vụ này bà đây sẽ xử lý mụ thế nào.

Người phụ nữ ăn mặc sang trọng thầm nghiến răng, trong miệng rin rít từng chữ nho nhỏ để không ai có thể nghe được.

Sau một chập, lần lượt từng chiếc xe sạng trọng kéo nhau chạy vào cổng tòa án. Không Mẹc-xi-đéc thì cũng Tô-dô-ta, rồi MPV, rồi bán tải, thôi thì đủ loại. Đám dân đang chờ dài cổ ngoài kia nhìn vào nước sơn bóng lộn của bọn chúng thôi cũng đã thèm rỏ dãi rồi.

Ai cũng biết, người thò chân ra từ những chiếc bốn bánh ấy, không phải ông này thì đều là bà nọ. Đều có vai vế, chức vụ to tổ bố cả. Chẳng phải hạng dân đen như bọn họ có thể xếp cùng mà nói chuyện được.

Bước ra từ một chiếc KIA moring sáng loáng nước sơn màu đỏ tươi vui nhộn là một người đàn ông đầu lơ thơ mấy sợi tóc được bôi dầu bóng loáng. Bộ véc chính hiệu kết hợp với đôi giầy cũng được đánh bóng và chiếc cà-ra-vát họa tiết ca-rô trắng đen tạo nên ở ông ta một vẻ sang trọng lịch lãm khác hẳn với những người chung quanh. Dẫu rằng ông ta chỉ cao quá ngực của người phụ nữ ăn mặc có vẻ quý phái nọ.

– Chào luật sư Đạt. Rất vui vì ông đã đến. Nhờ ông giúp cho cháu nó, nhà tôi xin đội ơn ông rất nhiều.

– Không sao. Không sao. Chỗ quen biết mà chị nhà lại nói mấy câu khách sáo như thế.

Ông ta vừa nói mấy câu đáp lễ lịch sự, đồng thời đôi con ngươi không ngừng quét lên thân thể bà ta. Dẫu chỉ là chút lén lút thôi nhưng hai tay cảnh sát đứng gần như thế đều mơ hồ nhận ra được điều gì đó.

Mọi người lục tục kéo nhau vào bên trong tòa, ai nấy đều mang tính tự giác rất cao để có thể tự tìm cho mình một chỗ ngồi thích hợp. Tuy rằng không ai cố ý gây ra quá nhiều tiếng động nhưng không khí nơi đây cũng không giấu giếm được một chút vẻ hỗn loạn và ồn ào.

Nhưng trong đôi mắt Việt, mọi thứ đang xảy ra chung quanh sao mà đáng yêu đến như thế? Việt cố gắng tận hưởng từng phút giây tự do ít ỏi còn lại để cảm nhận hết tất cả cái phóng túng và sảng khoái trong mỗi lần hít thở, hoặc trong từng cử chỉ của bọn họ.

Chín giờ rưỡi không sai một phút, lần lượt bốn người đàn ông trung niên và một phụ nữ đứng tuổi xếp hàng nghiêm chỉnh đi lên và ngồi vào những chiếc ghế thẩm phán và kiểm sát viên đã được đặt biển tên phía trước. Không khí sau khi năm vị này xuất hiện bỗng dưng trầm xuống và có một cảm giác lành lạnh khác thường tự nhiên dâng lên trong lòng mọi người, làm ai nấy không tự chủ được phải gồng người lên một cái để chống lại cái rùng mình bật chợt ùa đến này.

Sau đó là hơn hai tiếng đồng hồ diễn ra trong căng thẳng. Không kể gì đến Việt, mà còn cho cả người phụ nữ ôm khung ảnh trắng đen, ông luật sư lịch lãm hay người phụ nữ ăn mặc sang trọng kia. Đến đám người đang ngồi dự bên dưới cũng thì thầm xôn xao không dứt.

Chỉ biết rằng khi cánh cửa tòa án mở ra lần nữa, người ta phải xúm lại đỡ lấy thân hình bà ăn mặc sạng trọng kia bởi vì bà ta đang nức nở đến ngã quỵ.

Chỉ có nét thản nhiên và lạnh lùng của người phụ nữ đang ôm khung hình trắng đen là còn có thể báo cho người chung quanh biết một chút về kết quả của phiên tòa.

Luật sư Đạt đi phía sau cũng mang bộ mặt nhăn nhúm như sơ mướp, im thin thít không hé răng một chữ. Bên cạnh ông ta là một người đàn ông khác tuổi chừng bốn mươi, cũng đang thểu não bước đi lếch thếch.

Bỗng dưng bà ăn mặc sang trọng vùng ra khỏi đám đông, chỉ thẳng mặt hai người đàn ông mà quát lên:

– Ông. Ông là một thằng đàn ông khốn nạn. Một thằng nhu nhược. Còn ông, ông đã làm được gì? Tôi đã cho ông những gì? Ông. Ông. Ông.

Cứ ông ông mãi mà chẳng biết phải nói thêm gì nữa. Hai người đàn ông bị mạt sát thẳng mặt như thế thì đỏ bừng mặt mũi, rồi lan đến cả hai dái tai. Hai ông này cũng chỉ có thể ấp a ấp úng mà không biết phải đáp lời ra sao.

Chuyện dông dài phức tạp này. Có kể cả ngày cũng chưa xong. Thôi thì cứ kể đi đã.

Nếu nói cho ngọn ngành thì mọi chuyện bắt đầu từ cái đêm bà Quyên trót trao thân cho ông Sinh vào một buổi tối trời oi bức ở Hà Nội.

Bà Quyên là con gái cưng của Bí thư Đảng ủy Quận B.Đ. Từ nhỏ đã được tiếp xúc với không biết bao nhiêu của ngon vật lạ, và tất nhiên được nuông chiều không kém cạnh gì mấy cô công chúa đỏng đảnh khác của những ông tai to mặt lớn, mà có khi còn là cá nhân dẫn đầu trong quần thể đang trôi nổi trên nóc của sự hưởng thụ và phú quý ấy.

Vào một đêm sau cuộc chơi không có bao nhiêu thú vị như bao ngày khác của bà Quyên, cũng là sau khi bà ta bị người yêu chia tay trong sự uất nghẹn. Bà đã chủ động lên xe của ông Sinh để cùng về. Đây là lần đầu tiên trong đời bà đưa ra cái quyết định sai lầm này, cũng như là lần đầu tiên ông Sinh cảm thấy thỏa mãn hơn bao giờ hết về sự có mặt của mình trên cõi đời.

Nhà hai người khác xa lắm, ông Sinh chỉ là con trai của một cảnh sát quèn đang thực hiện công việc lái xe cho bố bà Quyên. Từ nhỏ hai người đã quen biết, nhưng bởi cách biệt quá xa giữa hai người cho nên bà Quyên luôn tỏ ý coi thường ông Sinh không chút che giấu. Mọi cử chỉ, việc làm của bà, dẫu là ông Sinh hay đám bạn cùng chơi chung khi ấy, bà chẳng để ai vào nửa con mắt.

Bà duy trì vị trí dẫn đầu đám bạn trong xóm mãi cho đến khi bị người yêu chia tay, lý do cũng đơn giản như bao đôi tình nhân khác thôi: Chúng ta không hợp nhau.

Bà như bị dội cho nửa thùng phuy nước lạnh. Chao đảo có đến hơn nửa phút mới hoàn hồn lại, ngay sau đó là đỏ mặt tía tai gay gắt cùng phẫn nộ chửi bới người con trai kia. Anh ta nín thinh chịu trận cho đến khi bà thấy khát khô cả cổ mà không thốt lên lời được nữa. Khi ấy anh ta mới nói thêm một câu:

– Đây là lý do vì sao chúng ta không hợp nhau.

Rồi xoay lưng đi thẳng. Cũng chẳng quan tâm xem một chốc nữa bà Quyên sẽ về nhà bằng cách nào, bởi lẽ anh ta đèo bà Quyên đến nơi đây để dự tiệc mà.

Trong buổi tiệc nhỏ hôm ấy ông Sinh cũng có mặt. Bởi cũng là đám bạn lúc nhỏ ngày xưa chơi chung với nhau trong xóm mà thôi. Phải nói rằng từ lúc biết thằng em của mình có thể biến hóa hình dạng nhanh chóng một cách khác thường, ông Sinh đã bắt đầu để ý đến từng cử chỉ, hành động của bà Quyên. Ông len lén lả lướt qua từng đường nét trên thân thể bà, ông rạo rực và biết giữ im lặng. Bởi ông biết ông chẳng là gì nếu đem so với bà Quyên. Nếu có so sánh thì cũng như người xưa có một câu như thế này ‘đỉa mà đòi deo chân hạc’ đấy.

Ông Sinh biết chứ, ông cũng thấy khó chịu lắm mỗi khi bà Quyên tay trong tay, ôm ấp người con trai kia. Nhưng ông không nói, và cũng chẳng có biểu hiện gì quá mức để người khác phải chú ý. Ông quyết định giữ sự im lặng này cho đến khi nào ông còn có khả năng chịu đựng được.

Đêm đó, một đêm tối trời trăng mờ và nóng bức. Tiếng ve vẫn kêu râm ran không dứt tại một nơi nào đó trong mấy tán cây đen thẫm ngoài kia. Gió hình như đã bỏ đi đâu đó chơi rồi, Hà Nội lúc này oi bức như đang trong lò nung gạch.

Bà Quyên có uống hơi quá chén, cho nên khi ra về đã đề nghị ông Sinh đèo về nhà mình.

Ông Sinh thì vừa chở bà Quyên ngồi sau xe, vừa phân vân tự hỏi không biết ‘nhà mình’ là nhà nào? Là nhà bà, hay nhà ông? Ông chịu. Ông Sinh cố gắng đi xe thật chậm để suy nghĩ miên man, nhưng rốt cuộc ông vẫn dừng lại trước nhà mình.

Tất nhiên là nhà của ông rồi. May sao hôm ấy bố ông đang có ca trực, tức là phải làm tài xế cho bố bà Quyên về tận Hải Dương để họp hành gì đấy. Đã đi được hơn một ngày rồi, theo lịch trình thì phải hai ngày nữa mới về. Nhà thì chỉ còn mình ông, mẹ ông đã mất từ lâu, khi ấy người ta không biết bà bị bệnh gì, chỉ là lúc sáng còn khỏe mạnh cười nói, đến chiều thì đã đi rồi, cho nên ai cũng cho rằng bà chết vì trúng gió.

Sau khi đặt bà Quyên nằm sóng xoài trên cái nệm độc nhất của ông, trong lòng ông Sinh nảy lên không biết bao nhiêu ý tưởng tà dâm, đen tối. Nhưng còn sợ cái gì đấy mà chưa dám thực hiện. Ông định bụng sẽ ra hiệu thuốc đầu ngõ mua thêm vài viên thuốc ngủ nữa cho chắc ăn. Thế nhưng vừa xoay lưng, còn chưa kịp bước ra khỏi phòng thì bà Quyên đã lao chầm đến từ phía sau, ôm eo của ông Sinh cứng ngắc. Trong cơn mơ mơ màng màng, bà lẩm bẩm:

– Anh đừng bỏ em. Ở lại với em tối nay đi. Em sẽ không hư nữa đâu. Anh đừng bỏ em.

Cứ lẩm bẩm như vậy cho đến khi hai tay bà lỏng ra, chuẩn bị ngã vật xuống nệm ngủ thiếp đi thì ông Sinh đã nhanh tay bắt lấy và thì thầm khe khẽ vào tai bà:

– Ừ. Anh sẽ không bỏ em đâu. Tối nay anh sẽ ngủ ở đây.

Vừa nói vừa vỗ về nhè nhẹ vào lưng bà như người ta vẫn hay làm để dỗ cho một đứa trẻ con hay giật mình lúc nửa đêm trở lại giấc ngủ.

Quá trình chế tạo Đặng Hoài Quốc Việt chỉ đơn giản có thế. Sau khi vụ ồn ào này lắng xuống, sau khi cái đám cưới được tổ chức qua loa và yên ắng qua đi, thì chẳng còn ai nhắc đến chuyện này nữa.

Tên của Việt là do ông ngoại đặt cho, ý bảo tấm lòng của ông và cả nhà đều luôn ngóng trông vào Tổ Quốc Việt Nam vĩ đại, vào đường lối sáng suốt mà Đảng đã vạch ra, mọi người chỉ cần thực hiện theo và chờ đợi thôi. Họ Đặng là họ của ông, và tất nhiên bà Quyên con gái ông cũng mang họ Đặng.

Cưới bà Quyên rồi thì ông Sinh để lại căn nhà cho ông bố già chăm sóc, còn ông và bà Quyên chuyển sang ở trong một biệt thự nguy nga vừa được xây dựng bằng tiền triệu đô mà gia sản bên vợ chu cấp. Cuộc đời ông Sinh kể như là hoàn hảo đến không một tì vết trong con mắt của tất cả những thằng đàn ông từng quen biết ông Sinh thời ấy.

Ông Sinh vóc người thuộc loại trung bình, đầu bị hói nặng chỉ còn lơ thơ mấy sợi làm tượng trưng rằng khi xưa ông đã từng có tóc. Khuôn mặt xem ra cũng có nét thư sinh với hai cánh mũi nhỏ, gá trên đó là cặp kính cận dày cộm và xỉn màu đồng vì thời gian. Cặp môi mỏng thi thoảng mím lại vì ông có thói quen cắn môi từ lúc nhỏ. Nói chung ở ông toát lên một vẻ bình thường đến không cách nào nhìn ra nét đặc biệt mà bọn diễn viên, ca sĩ muốn có để thu hút dân chúng hùa theo gọi tên và thần thần tượng mình say đắm.

Thế nhưng ông Sinh lại kết hôn với bà Quyên, bóng hồng đỏng đảnh và tôn quý trong mắt hầu hết những thằng con trai đã từng gặp qua bà. Quả là một sự may mắn trời ban.

Chỉ có một điều làm cho ông không hài lòng chính là, kể từ hôm ấy cho đến bây giờ, bà Quyên không hề để cho ông Sinh chạm vào người lần nào. Bà nói đây cứ coi như là sự trừng phạt cho ông đi.

Bố vợ xếp cho ông một chức nho nhỏ trong ủy ban quận. Ngày ngày ông đi làm ở công sở, bà ở nhà không biết làm gì, có lẽ chỉ đi mua sắm, tập yoga hay tụ tập chị em tán chuyện cho hết ngày hết buổi thôi. Vì nhà có thuê đến ba người giúp việc nên bà chẳng cần phải mó tay vào chuyện gì cả. Đến cả Việt bà cũng giao cho vú em bú mớm, chăm sóc.

Cuộc sống êm đềm cứ vậy trôi qua đã hai mươi năm. Gia đình coi như hòa thuận từ trong ra ngoài, đến cả ủy ban thành phố cũng phát bằng khen cho gia đình bà là gia đình văn hóa loại một của thành phố. Mọi sóng gió chỉ xảy ra từ khoảng hơn bốn tháng gần đây mà thôi.

chap 20: Bão

Không chỉ có dân chúng trên bờ tung hô reo mừng phấn khích, mà ngay cả Nguyễn Kỳ cùng mấy mươi thủy thủ đoàn dù đã từng trải qua không biết bao nhiêu là sóng gió dặm khơi thì lúc bấy giờ trong lòng cũng không sao kiềm nén cho yên ổn được. Trống ngực ai nấy đều đập thình thịch, có cảm tưởng nếu như chỉ trong tích tắc mất tập trung để áp chế thì có lẽ quả tim sẽ vọt thẳng lên cần cổ mất.

Đi được tầm hơn nửa ngày, trong lúc đang đi vòng quanh sàn tàu kiểm tra dây nhợ cùng trang thiết bị thêm một lần nữa thì ở nơi góc thuyền bỗng phát ra mấy tiếng động lạ. Nghi hoặc nhìn lại thì phát hiện đó là một thùng nước ngọt được đóng từ gỗ, chung quanh được ba vòng sắt niềng lại thành hình tròn, hai đầu trên dưới được người ta đóng lại để có thể đựng nước hoặc trái cây hoa quả gì đấy, nói chung về công dụng của cái thùng gỗ này thì có kể mãi cũng không hết được.

Mà cái thùng gỗ thì có cái gì đâu phải chú ý quá mức đến như thế?

Nếu như không phải Nguyễn Kỳ phát hiện nắp thùng đang bị cơi lên một chút xíu, mà hình như có hai con mắt đang không ngừng đảo lia lịa chung quanh, dò xét tình hình bên ngoài.

Bước nhanh tới giật phăng cái nắp thùng gỗ lên, để lộ bên trong là một mái đầu xanh đen với những sợi tóc ngắn, xoăn tít. Bên dưới là một khuôn mặt còn vương chút nét trẻ con, với hàm răng trắng bóc và hai con mắt long lanh tinh quái đang ngước nhìn mình cười hề hề. Nhìn lướt qua là đủ biết chủ nhân khuôn mặt này rồi, Nguyễn Kỳ hơi giật giật khóe môi, bèn nói:

“Ananda, nhà ngươi đang mần cái rắm gì ở đây vậy hử? Mau mau bước ra đây báo cáo.”

“Gì thế hả thầy? Mới được người ta khen cho mấy câu, lại phong cho cái danh hão mà đã nở mũi to thế? Báo cáo với chẳng báo hổ nữa đấy.”

Ananda chật vật một lúc mới chui người ta khỏi cái thùng gỗ. Với tạng người cao to như thế mà khép mình cho vừa với cái thùng gỗ này thì quả cũng khó thật, có lẽ cu cậu vì thu người lâu quá, tay chân tê rần cho nên mới để lộ tung tích. Bằng không thì chắc cũng không có ai phát hiện ra được.

“Hừ, Tao đã cho mày lên tàu đâu mà dám vác mặt lên đây? Thằng cả với bé tư không có hùa theo cùng lên đây đấy chứ? Có biết lần này ra khơi nguy hiểm cỡ nào hay không? Đến lão Cẩn cũng đã chết rồi, một thằng nhóc như nhà ngươi thì giúp được tích sự gì?”

Nguyễn Kỳ thoáng cái đỏ mặt, để át đi vẻ xấu hổ đó liền tuôn ra một tràng câu hỏi làm Ananda tối tăm cả mặt mũi.

“Mau mau. Lên cái thúng này mà bơi về cho tao. Nhóc con như mày chỉ làm vướng tay chân của anh em khác thôi.”

“Xin thầy đấy. Con nào đến giờ đã săn được cá kiếm khổng lồ đâu. Thầy cho con bu theo xem cho thông não đi mà. Thầy cũng biết tài con mà, đến ông sáu Mâu đi biển chục năm mà còn lái tàu thua con, Trĩ rô kia to khỏe mà sức làm sao vượt được qua con, thầy làm gì mà lại chèn ép con đến thế. Anh cả và bé tư cũng muốn trốn theo lắm, nhưng đã bị con mua chuộc rồi, công tác hái thuốc sáng nay con đã giao lại cho hai đứa rồi.”

Nói xong thì cười to ra chiều thú vị lắm.

“Không được. cái này không có đùa được đâu, đến mấy lão làng còn phải táng mạng trong bụng tụi cá kiếm đấy, đừng có mà đùa bỡn. Mau lên thúng tre trở về đi. Mà này, nhìn tao kiểu gì thế?”

Đang muốn mở miệng trách mắng thêm ấy câu để thuyết phục Ananda trở về thì Nguyễn Kỳ phát hiện sâu trong đôi con ngươi long lanh kia ánh lên từng tia nhìn sắc lạnh. Nuôi nấng nó từ nhỏ đến giờ, đây  à lần thứ hai Nguyễn Kỳ bắt gặp ánh mắt như dao kiếm này của thằng nhóc. Thoáng nghĩ đến chuyện gì đó, bỗng nhiên Nguyễn Kỳ hỏi lại:

“Sao vậy? Định làm chuyện ngu xuẩn phải không? Nói cho nhà ngươi biết, đây tuyệt đối là tìm cái chết. Mau mau xóa bỏ cái ý tưởng đó đi, rồi mau mau trở về đi.”

“Con không về đâu. Con sẽ hết sức cẩn thận, chắc chắn không làm liên lụy tới thầy, mà nếu có bị làm sao, lúc ấy tự con làm thì tự con chịu.”

Nói tới đấy, Ananda lấy từ trong ngực áo ra một con dao dài cỡ bàn tay, sáng loang loáng dưới ánh nắng. Nếu dùng bàn tay này lật úp che lại, thì có căng mắt ra cũng khó mà phát hiện được con dao nhỏ này. Vẻ mặt Ananda vô cùng kiên quyết.

“Hừ. Đúng là nhóc con chưa ráo máu đầu. Chưa nói tới chuyện nhà ngươi có cơ hội tiếp cận hay chưa, chỉ nói đến số hộ vệ của ngài mang theo đã có hơn hai chục người rồi. Mà chỉ cần một trong mấy mươi người đó, thì có mười thằng Ananda họ cũng xử đẹp trong hai cái chớp mắt. Bằng vào cái gì mà nhà ngươi tự tin như thế? Thôi không nói nhiều nữa, mau, đưa con dao đây. Mà giờ có quay về cũng không ổn nữa, từ rày phải theo sát tao nghe chưa.”

Ananda chẳng còn cách nào khác, đành xị mặt xuống, sau khi giao con dao nhỏ trong tay cho Nguyễn Kỳ thì lủi thủi bước về phía mạn tàu.

Mặt biển xanh lung linh, từng tia nắng như những sợi tơ vàng óng không ngừng vuốt ve lên tấm lụa xanh thẳm ấy. Nhìn qua có vẻ nó cực kỳ êm ái, mềm mại. Nếu có thể chạm tay vào tấm lụa ấy mà nựng nịu thì ắt hẳn sẽ thích thú lắm. Phóng tầm mắt ra ngoài khơi xa, vẫn chỉ là một dải xanh miên man cùng ánh lên những tia lóng lánh như kim tuyến. Không gian như đang được mở rộng ra vô tận. Đối diện với cảnh tượng bao la rộng lớn này, dù trong lòng còn vương bao mối lo âu, sợ hãi, hay căm thù, ganh ghét, tính toán, âm mưu thì đều không còn quan trọng nữa. Trong thoáng chốc mọi thứ như đã bị gió biển cuốn trôi đi hết cả rồi.

Tuy biết có thể tạm thời kiềm hãm lòng ham muốn báo thù đang cháy rừng rực trong lòng Ananda, nhưng Nguyễn Kỳ không dám chắc thằng bé sẽ làm nên chuyện dại dột gì đây? Bây giờ còn miễn cưỡng làm được, nhưng sau này thì thế nào? Ông lắc đầu ngao ngán mà cũng thầm than thở cho số phận của thằng nhóc đáng thương này.

Khi Nguyễn Kỳ vớt sinh mạng bé nhỏ của Ananda khỏi bàn tay tử thần thì hơi thở của nó chỉ còn thoi thóp như sợi tơ mà thôi, tùy thời đều có thể đứt quãng. Tuy vậy, trên khuôn mặt nhỏ bé ấy vẫn luôn luôn ánh lên những tia nhìn sắc lạnh về một phương hướng duy nhất. Ánh mắt căm thù như tóe lửa, hai hàm răng cắn chặt vào nhau. Có thể chỉ là hành động vô thức thôi, vì ông biết khi ấy đến thở nó còn không làm nổi thì làm sao có thể duy trì mãi một vẻ mặt như vậy được.

Nguyễn Kỳ biết Ananda oán hận người An Nam vô cùng sâu sắc. Cả nhà Ananda đều táng mạng trong cuộc chiến đó, cuộc chiến mà chính người dân lúc đó cũng không mấy ai hiểu nguyên nhân vì đâu. Dù đã nhiều năm chung sống như một người An Nam, nhưng ông biết Ananda không biết giờ quên mối thù này, nó không hề giảm đi chút nào, chỉ là được giấu giếm kỹ lưỡng hơn mà thôi.

Tháng Chạp năm Hưng Long thứ 18, tức vào năm 1311. Vua Trần Anh Tông đích thân khởi binh, tuyên bố thảo phạt Champa. Lấy lý do Champa vương Chế Chí mang lòng bất trắc, không chịu giữ giao ước với Đại Việt. Sau trận chiến, chẳng những Champa vương Chế Chí bị bắt, mà tù binh, đàn bà và của cải bị lấy đi đem về Đại Việt rất nhiều. Còn số người đã vĩnh viễn nằm xuống thì không ai thống kê cho chính xác hết được.

Từ xưa đến nay vẫn vậy, kẻ mạnh mới là người được quyền lên tiếng. Cũng là kẻ có quyền viết nên lịch sử. Đúng sai, phải trái nào có quan trọng gì đâu, chỉ cần tìm một lý do thích hợp, mọi cuộc đàn áp đều có thể thực hiện một cách chính trực và vẻ vang. Trên đời này làm gì có kẻ đúng, người sai, chỉ có người chiến thắng sau cùng mà thôi. Nhân nghĩa là để trị dân, còn vũ lực mới chính là thứ trị quốc.

Đoàn thuyền 12 chiếc căng buồm lênh đênh trên biển hơn năm ngày thì đã chuẩn bị tiếp cận vùng biển đánh bắt khi trước. Mặt biển lúc này vô cùng bình lặng, đến gió cũng không có lấy một cơn. Không khí đột nhiên oi bức lạ thường, làm cho người ta có cảm giác chỉ muốn nhảy tùm xuống biển để giải tỏa cái nóng hầm hập trong người này.

Người ngư dân ai lại không cầu mong cho mình luôn được bằng an, ra khơi sóng yên biển lặng. Chỉ vậy thôi cũng đủ để bọn họ cầu phúc tiên, thần phật vô vàn lần rồi. Nhưng cái loại yên tĩnh này sao mà kì quặc đến vậy chứ? Nhìn xuống mặt biển trong vắt vậy mà lại không thấy bóng dáng một con cá nào. Thường ngày thì lũ cá nhỏ rất thích bám theo mạn tàu, số lượng không hề ít mới đúng.

Trong lòng Nguyễn Kỳ thầm rùng mình một cái, bất chợt có những lo lắng không tên đang dần trỗi dậy trong lòng. Tuy thế ông vẫn lặng im tiếp tục quan sát tình hình, không muốn làm kinh sợ đến mấy thủy thủ khác trong đoàn.

Đi thêm chừng hơn 10 hải lý nữa, Nguyễn Kỳ chợt cảm thấy gió lạnh thổi tạt vào mặt chẳng khác nào đi giữa trời đông. Gió Đông Nam đang không ngừng chuyển lạnh đi. Lúc này, không kể Nguyễn Kỳ mà cả mấy người thủy thủ đoàn có kinh nghiệm cũng đã phần nào cảm giác được có chuyện chẳng lành sắp sửa ập tới. Mọi người không tự chủ được mà rùng mình một cái.

Đến lúc này thì Nguyễn Kỳ không còn nghi ngờ gì những phỏng đoán trong lòng nữa rồi, ông vội vàng hét lớn:

“Là cơn giông từ hướng Đông Nam, tất cả tàu chuyển hướng mau lên. Trực chỉ Tây Nam. Trực chỉ Tây Nam.”

Sau đó lại gấp gáp nói vào tai một thủy thủ bên cạnh:

“Nhanh, nhanh đi thông báo cho tàu Thái Thượng Hoàng biết.”

Di chuyển theo hướng Tây Nam chính là đi vuông góc với đường đi cơn giông sắp sửa phải đối mặt, đây cũng là hướng đi ngắn nhất lúc này để giảm thiểu thiệt hại đến mức thấp nhất.

Những ngư dân đi biển lâu năm như Nguyễn Kỳ, đều vô cùng tin tưởng vào trực giác của mình. Những dự báo tuy chỉ dựa vào chút biến đổi manh nha của gió hoặc không khí thôi cũng đã có thể cứu lấy không biết bao nhiêu tính mạng khỏi tay tử thần rồi. Những kinh nghiệm đại loại như vậy, không thể truyền dậy bằng miệng hoặc cử chỉ được, chỉ có tự mình trải nghiệm thì bài học mới khắc sâu vào trong trí não được. Mà bài học thực tế loại này, cái giá để trả học phí lại vô cùng to lớn, có khi phải đánh đổi bằng cả tính mạng của mình hoặc những người xung quanh.

Trên thực tế, khi khí áp đột ngột biến đổi như vậy, tức là có những dòng khí lưu đang xung đột với nhau, cũng có nghĩa là một cơn bão lớn rất nhanh sẽ hình thành.

Trong thoáng chốc sau khi nhận được thông báo của Nguyễn Kỳ, ai nấy trên tàu đều nhộn nhạo cả lên. Vẻ bình tĩnh thường thấy khi vừa xuất phát đã biến đâu mất sạch sẽ. Chỉ có vài người lão luyện và hơi có tuổi một chút còn có thể giữ được sự bình tĩnh để bắt tay ngay vào công việc. Nguyễn Kỳ lúc này cũng không ngừng đốc thúc và động viên các anh em khác để bọn họ không vì quá hoảng loạn mà làm ảnh hưởng đến toàn đội. Các tàu khác ở phía sau cũng đang lục tục huy động mọi người hạ buồm chính, buồm phụ, hoặc bẻ bánh lái, hoặc hỗ trợ cho những người khác.

Diễn tả thì xem ra có vẻ chậm, nhưng tình huống lúc bấy giờ xảy ra vô cùng mau lẹ. Mặc dù ai nấy đều vắt hết mồ hôi và sức lực để làm việc nhưng…

Mọi người chỉ cảm thấy bầu trời trên đầu vừa mới rồi còn trong xanh không một áng mây trôi. Vừa cuối xuống lấy tay quệt mồ hôi trên khóe mắt, ngẩng đầu lên đã thấy tối sầm, xám xịt cả lại. Mây đen và gió lớn không biết từ đâu ùn ùn kéo về. Ngay sau đó là sấm vang chớp giật liên hồi không dứt, sóng biển theo đó cuộn trào sôi sục. Cả một vùng biển rộng lớn đang yên ắng ôn hòa, bỗng cốc thét gào, gầm rú và quay cuồng như có một bàn tay khổng lồ thần bí nào đấy đang khuấy đảo trời đất lên vậy.

Mọi người trên tàu bị mưa gió, sóng biển tạt vào lạnh buốt, ướt sũng từ đầu đến chân. Dẫu bị đánh bật khỏi vị trí, nhưng ai nấy giờ phút này cũng ý thức được sự đáng sợ của biển cả, đều liều mạng vừa bám vừa bò để trở về vị trí. Người thì kéo thừng, người bẻ bánh lái, còn có người chỉ biết có la hét nữa. Đứng trước sức mạnh khủng khiếp của thiên nhiên, sức lực con người chủ vừa đủ tiêu chuẩn để đứng vào vai diễn bị vùi dập mà thôi. Bọn họ có chăng chỉ là cố gắng hết sức của mình, và cầu khẩn thần linh đừng lấy đi mạng sống của mình.

Bỗng nhiên bên tai mọi người truyền đến từng tràng ầm ầm thật lớn, vội vàng nhìn lại thì phát hiện ở phía sau, hai con tàu lớn bị nhấc bổng lên như hai chiếc lá, rồi đánh sầm vào nhau. Thủy thủ đoàn trên tàu la hét í ới, vội vàng nhảy tùm xuống mặt biển đang cuồn cuộn bọt trắng. Dẫu đều biết rằng giữa lúc này mà nhảy xuống biển thì coi như một nửa mạng sống đã giao vào tay tử thần, nhưng nếu còn nán lại trên thuyền thì một nửa còn lại cũng đành chấp nhận bán tuốt.

Từ trên các tàu lân cận vang lên từng hồi hô to, rồi có không ít dây thừng được ném ra. Những thành viên vừa nhảy xuống biển kia sau khi ngoi lên mặt nước nhanh chóng bám vào, ai nấy đều thở phào nhẹ nhõm một hơi dài. Các con tàu sau khi nhận được thông báo chuyển hướng, đã rất nhanh chấp hành, lấy tàu Nguyễn Kỳ làm hoa tiêu, chật vật một hồi lâu mới miễn cưỡng thoát khỏi trung tâm cơn bão. Tuy sóng biển và gió mưa đã có phần dịu bớt, nhưng vẫn chưa có dấu hiệu kết thúc. Ai nấy đều cảm thấy toàn thân rã rời, tay chân như không còn phải là của mình nữa, mệt mỏi và đau nhức không sao tả nổi. Đi đầu lúc này vẫn là tàu của Nguyễn Kỳ, các con tàu khác lũ lượt bám theo phía sau, trông qua nhếch nhác vô cùng.

Ra quyết định cho đội tàu chuyển sang hướng Tây Nam chẳng phải là bồng bột nhất thời, hay trong lúc hoảng loạn mà đưa ra như vậy. Bởi lẽ, Nguyễn Kỳ thấy, hầu như hơn một nửa các cơn bão mà ông và dân làng từng trải qua đến giờ, hướng đi của bọn chúng đều là hướng Đông nam – Tây Bắc, hoặc là Đông – Tây Bắc. Cho nên chọn con đường Tây Nam là hướng đi sẽ tránh được rủi ro nhiều nhất. Cũng bởi vì vậy mà tất cả các thành viên dù có kinh nghiệm hoặc chỉ là tân binh thì vẫn không tỏ ra chút nào nghi ngờ về quyết định này của Nguyễn Kỳ.

Thế nhưng, đứng ngay mũi thuyền, cảm nhận từng đợt gió lạnh khác thường không hề có dấu hiệu giảm bớt lúc này, sắc mặt Nguyễn Kỳ vẫn duy trì vẻ trầm tư, lo lắng.

“Hình như có cái gì đó không đúng. Anh Kỳ, anh có thấy không, nếu theo đường vần vũ của những đám mây kia, thì cơn bão đã bị chúng ta bỏ sau lưng mới đúng. Sao gió lạnh vẫn cứ thổi vào mặt chúng ta thế này. Lẽ nào…”

Thoáng thấy sắc mặt đâm chiêu, cùng hai hàng lông mày nhíu chặt của Nguyễn Kỳ, một thủy thủ đoàn có kinh nghiệm khác tiến lại hỏi dò mấy câu, muốn tìm ở vị thủ lĩnh này một chút vững dạ. Nhưng còn chưa nói cho hết câu, một cơn gió lạnh buốt đột ngột đập thẳng vào mặt anh ta, toàn thân bỗng dưng lạnh toát như vừa rớt vào hầm băng, anh ta không kiềm chế được mà giật bắn lên một cái. Đồng thời những người khác trên tàu cũng đã cảm nhận được cái ớn lạnh này.

“Mau mau chuyển bánh lái, xoay bánh lái về hướng Nam. Nhanh lên. Nhanh lên.”

Nguyễn Kỳ hô lớn, sau đó nhanh chóng chạy về cuối thuyền, nắm chặt cần lái, cùng mọi người chuyển hướng.

Tình hình bỗng chốc trở nên gấp gáp khôn tả. Ai nấy đều tái mặt, hô hào nhau chung sức để chuyển hướng cho con tàu. Đồng thời phát tín hiệu khẩn cho những tàu còn lại ở phía sau.

“Mọi người bình tĩnh, chúng ta vẫn còn thời gian. Đừng hoảng loạn, cố gắng giữ nguyên vị trí. Đổi lộ trình sang hướng Nam, hướng Nam.”

Sau đó Nguyễn Kỳ lại quay sang một thủy thủ khác nói vào tai anh ta:

“Nhanh phát tín hiệu cho tàu Thái Thượng Hoàng, có lẽ cơn bão đến từ hướng Tây Nam chứ không phải Đông Nam như chúng ta tưởng đâu.”

Nguyễn Kỳ dù chỉ dựa vào kinh nghiệm đi biển của bản thân để phán đoán, song lại có không ít phần chính xác.

Trên thực tế cơn bão đến từ hướng Tây Nam, nhưng bởi lẽ chung quanh ngoài rìa của cơn bão cực lớn này, tạo nên những trận nhộn nhạo bất ổn của các dòng khí lưu, cho nên đã tạo ra không ít cơn giông nhỏ chung quanh. Chính những cơn giông này đã đánh lừa phán đoán của bọn họ. Những người đi biển này, dẫu có dày dạn kinh nghiệm hơn nữa cũng sẽ không thể nào lường được diễn biến này. Từ trước cho đến giờ, bọn họ chưa từng lần nào thấy một cơn bão lại xuất phát từ phía Tây Nam mà đi lên cả. Nói như vậy, cơn bão có lẽ bắt đầu từ Mã Lai, sau đó di chuyển theo hướng Tây Nam Đông Bắc, sau đó sẽ quật trở lại vào đất liền. Cũng có nghĩa đường đi cơn bão này sẽ vô cùng phức tạp.

Nguyễn Kỳ tuy vẫn theo dõi sát sao tình huống khí áp và độ ẩm như vậy, nhưng đến tận bây giờ mới có thể phát hiện ra một chút ít manh mối của cơn bão lớn phía Tây Nam này.

Chương đệm

Mùa hè, thời gian cây cỏ hoa lá đua nhau vươn mình trong nắng. Kéo theo là không gian vui tươi và tràn đầy sức sống phô bày trọn vẻ nhiệt tình nóng bỏng từ chúng. Ong bướm nô đùa bên hoa, chim chóc thi nhau hót vang bài ca líu lo khiêu gợi bạn tình. Cả âm thanh lẫn màu sắc đều sống động vô cùng.

Nếu như từ trước đến giờ tôi có bỏ sót bất cứ một chi tiết nào, vì một lý do nào đó, thì giờ phút này, khi đang nằm cứng đơ trong một không gian yên tĩnh thì nỗi hối hận mới được cho phép bộc phát. Cuộc sống này nếu có thể chậm lại như vậy, thì cái yên bình như vậy tự nhiên sẽ khiến người ta có nhiều thêm một chút thời gian để suy ngẫm những chuyện mình muốn, cả những thứ mình từng có và đã mất.

Thời gian là một khái niệm mơ hồ được con người ta gọi tên để chỉ về một cái gì đó xoay quanh cuộc sống của họ. Lấy đó để so sánh về cuộc đời của kẻ khác. Dựa vào đó để soi xét những khả năng và thành quả của mình. Chiếu theo đó để sửa đổi vận động bản thân theo trật tự bị gượng ép bởi xã hội. Và tất nhiên là sợ hãi nó trong chừng mực nào đó của độ tuổi. Tóm lại, về cái mông lung đến vô cùng phức tạp của thời gian, con người ta vẫn thản nhiên như thể nó chẳng là gì cho đến khi họ chú tâm để ý đến.

Chẳng hạn mà nói, nếu suy cho cùng thì Trương Nhật Hùng tôi đây vì cớ gì cứ phải chạy theo những ham muốn khốn cùng của xã hội, để sau đó đẩy những người bạn chung quanh mình vào cảnh nguy hiểm, có khi là đã chết? Khi được trao cơ hội trời ban như lúc này, tôi mới bắt đầu hỏi tiếp những câu hỏi mình chưa nghĩ ra.

May là tay trái của tôi vẫn còn lành lặn, cho nên lúc này nó được trao nhiệm vụ đặt lên trán của tôi, một hành động biểu lộ cho người khác thấy là tôi đang suy nghĩ.

Tại sao tôi phải làm như vậy nhỉ? Có ai đang ở cạnh tôi đâu?

Chẳng biét nữa.

Có gì đó trong đầu tôi thôi thúc rằng, hễ cứ suy nghĩ là y như rằng tay phải đặt lên trán. Kỳ lạ thật.

Tôi biết tại sao mình nằm đây, dẫu chỉ là đoán thôi, nhưng thằng Hùng này chẳng phải loại ngu ngốc đến độ phải hỏi đi hỏi lại mãi mấy câu: Tôi là ai? Tôi đang ở đâu? vân vân và vân vân.

Có đến hơn chín phần thì đây là nhà của Nhiên, một nữ y tá của bệnh viện Chợ Rẫy. Cô gái này cũng chỉ được giao một chức vụ nhỏ bé trong đó mà thôi, tất nhiên một tên côn đồ du đãng như tôi, hết chín mươi chín phần trăm là sẽ không bao giờ có cơ hội được tiếp xúc với một nữ y tá tại nhà riêng của cô ta. Và, một phần trăm còn lại nằm ở trường hợp ngoại lệ.

Nhiên là chị ruột của An. Ai mà ngờ cái thằng suốt ngày đầu đường xó chợ như thằng An, lại có một bà chị làm y tá cơ chứ. Nhưng chuyện ai ngờ thì có liên quan gì đến cuộc đời của người ta đâu?

Tôi quen Nhiên trong một lần tôi và thằng An bị thương sau trận đụng độ với một đám côn đồ khác trong trận chiến giành địa bàn. Ngày ấy, trong đầu tôi chỉ có mỗi một chữ duy nhất: Đẹp. Thật sự là một cô gái vô cùng xinh đẹp.

Dẫu rằng Nhiên bị tật ở miệng làm cho miệng cô ấy bị méo xệch sang một bên. Nhưng không hiểu tại sao trong mắt tôi, người con gái ấy lại đẹp như thế.

Tôi không rõ mình phát hiện vẻ đẹp của Nhiên từ lúc nào nữa. Là mới gặp lần đầu, hay là sau khi nghe được câu chuyện trớ trêu về cuộc đời của cô ấy từ thằng An.

Nhiên năm lên hai tuổi thì mẹ cô ấy sinh thêm thằng An. Tên của hai chị em gộp lại chỉ đơn giản là cầu mong làm sao cuộc sống của bọn chúng sẽ được bình yên, vậy là đủ. Mẹ của bọn nhỏ nào có ước muốn gì to tát đâu.

Nhưng ước muốn và cuộc đời là hai khái niệm cách biệt nhau quá xa. Sau đó không lâu, mẹ thằng An tái hôn với một người đàn ông khác. Lại không lâu sau đó nữa, mẹ của hai đứa nhỏ qua đời, để lại hai đứa con cho ông dượng nát rượu nuôi dưỡng. Năm ấy thằng An mới lên 8, cái tuổi còn thò lò mũi xanh, ngơ ngáo nhìn cuộc đời xoay mòng mòng trước con mắt ngây thơ đẫm nước khi mẹ nó trút hơi thở cuối cùng.

Vừa đủ một tuần sau ngày mẹ thằng An mất thì nó bị bắt đi ra chợ, trong tay cầm theo cái thùng gỗ với mấy cái bàn chải, một hủ véc-ni và củ khoai lang luộc từ tối ngày hôm trước. Hành trang chỉ có thế, nhưng quãng đường suốt cả một ngày dài của thằng An trôi qua lại chẳng xuông sẻ tí nào. Từ ngày lên 8 ấy đến tận bây giờ, thằng An sống ngoài đường còn nhiều hơn ở nhà. Lý do rất đơn giản, bởi từng trận gió lạnh hay cơn quặn thắt trong dạ dày vì đói của nó vẫn còn dễ chịu hơn những cú quật roi độc ác của ông bố dượng. Nhiều khi Nhiên xông vào thay em chịu đòn thì ông ta nhân đó quật xối xả vào lưng, vào đầu hai đứa nhỏ.

“Lúc đó tui say mà. Có biết gì đâu. Không lẽ ông đi bắt bẽ một thằng say như tui, có còn pháp luật nữa hay không vậy?”

Khi bị dân phòng mời lên phường, thì câu nói thường trực của ông ta luôn là vậy.

Tiền bạc không có. Vậy nên cuộc sống tù túng lại càng khốn cùng hơn khi trong gia đình lại có thêm một con bượm rượu. Hàng xóm chung quanh nhìn cảnh bơ vơ của hai đứa nhỏ mà ai nấy cũng đều lắc đầu ngao ngán. Họ thương tình thì cho ly sữa đậu nành, hoặc chén cơm, có khi là củ khoai luộc. Nhưng ai đâu cứ giúp mãi được, cuộc đời mỗi người một cảnh, không ai sống mãi cho người khác được.

Thằng An còn có cái lý do đánh giày để trốn khỏi căn nhà địa ngục. Nhưng đối với Nhiên thì đấy chắc chắn là đọa thân nơi địa ngục.

Trong một lần say mờ mắt. Tên bố dượng khốn nạn đã thực hiện hành vi thú tính đồi bại với cô bé lúc ấy chỉ mới 12 tuổi hơn.

Khi bụng đã bắt đầu lớn, và những lời bàn tán độc địa từ những cái miệng của hàng xóm không ngừng xỉa móc, thì đối với cô bé còn bể khổ nào to lớn hơn thế đâu.

Sau cú sốc tâm lý nặng nề đó, Nhiên bị một cơn động kinh rất nặng, lúc đó thằng An tưởng chị mình đã chết rồi, cho nên hai mắt như đổ lửa, tay nắm chặt con dao trong nhà bếp chém không thương tình tên bố dượng độc ác. Cũng may được hàng xóm giúp đỡ cho nên không có án mạng xảy ra, thế nhưng từ hôm ấy trở đi hai đứa nhỏ đã chẳng còn nhà nữa.

Đứa con đầu tiên trong đời của Nhiên, chỉ sau 6 tháng đã không giữ được. Một sinh mạng bé nhỏ vì thiếu dinh dưỡng nên bị sinh non, sau đó không lâu đã qua đời vì suy hô hấp.

Miệng cô bé bị dị tật từ sau lần bị động kinh ấy, cho nên méo xệch sang một bên. Nước mắt hẳn là đã chảy rất nhiều. Cả máu và lòng yêu thương nữa, hẳn cũng đã dần cạn khô cả rồi. Cô bé sợ đối diện với người lạ, đến việc nói năng cũng bị bản thân hạn chế đến mức gần như câm lặng, chỉ còn lại hành động, và cay đắng.

Hai chị em nương tựa nhau mà sống qua những chuỗi ngày dài đằng đẵng trong cảnh nghèo khó khốn cùng.

Có một dạo trong lòng tôi quặn đau như thể có mấy viên gạch Tàu cùng lăn lộn bên trong bụng và ngực khi được nghe kể về những mảnh đời ấy. Quá khứ của Nhiên khác biệt quá. Nếu đem nhìn ngắm cho thật kỹ thì nó có lẽ phải sầu thảm và cay đắng hơn cuộc sống của một thằng ăn chơi lêu lỏng như tôi nhiều.

Chuyện sau này thì cũng dễ đoán thôi, thằng An làm đàn anh đám bụi đời nhí ở Ga Sài Gòn rồi quy hàng vào băng của tôi. Nhiên đã đăng ký trúng tuyển vào một chân y tá nho nhỏ tại Chợ Rẫy. Mấy bận đánh nhau toét đầu chảy máu, đều là nhờ Nhiên sơ cứu cho mấy anh em chúng tôi cả.

Nói Nhiên là chị của thằng An và hơn nó đến hai tuổi, thì rõ ràng tôi cũng phải gọi cô ấy bằng chị mới phải. Nhưng không biết vì lý do gì mà cái miệng nó cứ cứng đơ ra, không thốt lên được chữ ấy. Tôi chỉ có gọi thẳng tên thôi, mà hình như cũng chẳng có ai để ý đến chuyện này.

Rồi từ đấy, trong tôi bỗng bùng lên một loại cảm xúc vô cùng kỳ lạ, nó vừa thôi thúc tôi phải làm một điều gì đấy, nhưng đồng thời lại ngăn cản tôi phải thực hiện nó, nó nhẹ nhàng mà day dứt, chậm rãi nhưng không hề suy kiệt. Khi mà con tim lúc nào cũng chộn rộn không yên khi gặp người ấy. Như hàng trăm con kiến cùng bò ngang dọc trong ruột gan khi bên cạnh người ấy. Thật khó mà diễn tả cho chính xác được nhưng sâu thẳm trong cõi lòng tôi, ở đó hình bóng mảnh mai với bờ vai gầy được che phủ bởi mái tóc dài đã được in đậm sâu sắc. Nó rõ ràng và đau đớn, dù rất cố gắng nhưng một thằng côn đồ như tôi, cũng không biết phải bắt đầu làm gì và làm như thế nào để vơi đi gánh nặng trong lòng Nhiên.

Nằm lặng im và nhìn theo bóng lưng mảnh khảnh ấy, lòng tôi cứ thấy đau đau, khó chịu trong tim. Cứ như có một vật gì đó to như nắm tay mắc nghẽn lại ở cổ họng. Phải gắng gượng lâu lắm, từ trong cái miệng khô khốc ấy mới phát ra được vài âm thanh thều thào. Đến chính tôi còn không rõ là tôi đã nói gì, hay phát ra âm thanh gì nữa. Vậy mà bóng lưng kia khẽ khựng lại một chút, rồi nhẹ nhàng xoay đầu lại.

Vẫn khuôn mặt ấy, đôi lông mày ấy, cùng sống mũi cao và thon, tất cả kết hợp để tạo nên một vẻ đẹp hoàn mĩ. Đúng là như vậy, tôi không bao giờ có chút nghi ngờ nào về sắc đẹp đó, nó tuyệt đối là vẻ đẹp của tạo hóa, ngoài kia biết bao con bé chân dài phấn son lòe loẹt và thum thủm mùi nước hoa nhái đều khao khát sở hữu những đường nét như vậy.

Dưới ánh nắng, ở cô ấy ánh lên sắc vàng dịu nhẹ, có cảm giác như nắng cũng đang cùng hòa nhịp vào những đường nét ấy. Hòa cùng gió, là mùi hương thoang thoảng không biết tên tỏa ra từ cô ấy, gió cũng đồng tình cho vẻ đẹp này. Mái tóc dài ánh lên sắc xanh đen của tuổi đôi mươi, vài lọn tóc nhẹ bay phấp phới trông thật đẹp. Làn da trắng có chút tái xanh lại càng tôn thêm vẻ rạng ngời dưới nắng.

Hai mắt tôi cứ trân trân nhìn không khép lại lấy một lần, có lẽ lấy lý do đang nằm bẹp một chỗ vì bị thương nặng cho nên bao nhiêu cái ngượng ngùng xấu hổ tôi đều quẳng đi sạch hết. Hai người cứ thế nhìn nhau một lúc lâu, dễ có đến tầm hơn hai phút, tôi mới lấy lại một chút tự nhiên, nhếch cái miệng nặng như đeo chì lên, hỏi:

“Nhiên này. Tui nằm đây bao lâu rồi. Mấy đứa khác không sao chứ? Mà thằng An đâu? Sao tui hổng thấy?”

Lại một thoáng im lặng khác, lần này không khí mang một vẻ trầm lắng nặng nề vô kể. Tự nhiên toàn thân tôi nổi lông gà lạnh toát, run run hỏi tiếp:

“Có. Có phải là…? Thằng An, nó, đi rồi phải không?”

Nói được mấy chữ lắp bắp ấy thì bỗng nhiên tôi thấy hai dòng lệ long lanh tuôn trào nơi khóe mắt Nhiên. Vẫn là sự im lặng đó, nhưng không hiểu vì sao lại có thể diễn tả nhiều thật nhiều cảm xúc như vậy. Cô ấy run rẩy ngồi phịch xuống cái ghế bên cạnh giường tôi nằm, run rẩy như một con chim nhỏ lạc mẹ, run rẩy như một cành hoa đơn độc giữa gió bấc, run rẩy tựa đầu vào hai gối và đỏ hoe đôi mắt.

Không khó để có thể đoán được kết quả, ngay từ lúc thằng An liều mình cứu tôi, thì tôi đã có dự cảm rất xấu về nó. Tuy nhiên, thằng An bị thương nặng như vậy mà vẫn còn tỉnh táo để đưa tôi đi cấp cứu thì tôi cũng vô cùng ngạc nhiên. Tôi còn nhớ rất rõ là thằng An đã đỡ thay tôi một nhát vào đầu, nhưng sau đó tôi vẫn bị một vật gì đó đập mạnh vào đầu và từ lúc đó mọi sự mất đi cảm giác, mất luôn tri giác, rồi tôi thiếp đi cho đến khi được ông não đánh thức dậy.

Rồi chuyện tôi bị xuất huyết não, rồi chuyện khối u sau não, rồi ông ta rời xa tôi, rồi nhiều chuyện khác nữa, cứ dồn dập ùa về trong trí nhớ. Dựa vào tình huống của hai đứa tôi, khả năng rất lớn là thằng An sẽ không qua khỏi, tuy nhiên tôi vẫn phải cố bám víu vào một chút hy vọng mong manh từ những người còn sáng suốt như Nhiên, mong sao sẽ nghe được chút xíu gì đó yên lành.

“Nhưng mà. Nếu như. Nếu như…”

Nhưng cuộc đời làm gì có lắm cái nếu như như vậy.

Chờ cho Nhiên khóc một lúc cho nguôi ngoai, cũng là làm cho tim tôi có chút khoảnh khắc thanh thản. Dùng một tay còn lành lặn duy nhất lúc trước đang vắt trên trán ấy, tôi nhẹ nhàng nắm lấy bàn tay nhỏ bé và lạnh buốt của Nhiên, khẽ vỗ về và xoa nhè nhẹ lên mu bàn tay, từng nhịp từng nhịp nhẹ nhàng như ru một đứa trẻ con đi vào giấc ngủ. Nhiên nhẹ nghiêng đầu, tựa vào thành giường của tôi và thiếp đi, trong lúc hai mắt tôi vẫn đang chăm chăm nhìn lên trần nhà với vẻ suy tư càng lúc càng nhiều hơn.

“Về Nha Trang nhé. Và làm vợ anh nhé.”

Miệng tôi thì thầm như vậy đấy. Không biết đã lặp lại bao nhiêu lần rồi.

–o0o–

“Mày nói cái gì? Vẫn không tìm ra được? Địt mẹ tao nuôi lũ chúng mày để ăn không ngồi rồi tán dóc và chơi đĩ thôi phải không? Cút, cút ra ngoài kia tìm được thằng Hùng về đây cho tao.”

Giọng Bê vang lên trong cơn cuồng nộ bốc cao ngùn ngụt như núi lửa. Tiếng thét buông ra xối xả vang trời dậy đất kèm từng hồi thở dốc để kìm nén cơn đau từ bả vai và cái chân chỉ còn trơ lại từ đầu gối trở lên. Hai mắt Bê long lên đỏ ngầu, miệng quát tháo đến xủi cả bọt mép.

Đám đàn em bên dưới run rẩy, và cười khẩy. Bọn nó biết thời của Bê đã sắp hết, chẳng qua là kiên nhẫn đợi thêm vài ngày nữa thôi.

“Nhanh. Tập hợp tất cả đàn em cùa tui mày, phân chia nhau ra lùng hết cái Sài Gòn này cho tao. Còn chưa tìm được thì đừng cút về đây nữa. Đ.m tụi mày, nhấc đít lên mà làm việc cho tao.”

Ngắt quãng giữa những câu văng tục vừa khó nghe vừa khó ngửi ấy là từng tràng xuýt xoa vì cơn đau còn đang hoành hành.

“Mẹ cha mày thằng Hùng, mẹ nó đau quá. Hùng. Hùng, tao thề, tao thề sẽ lột hết da của mày, chặt chân rút gân cho mày tàn phế đến hết cuộc đời chó má của mày luôn.”

Bọn đàn em dẫu đã đi xa khỏi căn buồng khám nồng nặc mùi thuốc khử trùng mà vẫn còn văng vẳng bên tai từng tràng chửi rủa không dứt của Bê, đến cả mấy phòng bệnh liền kề cũng chịu chung số phận khi phải gồng mình, bịt tai để khỏi nghe phải những câu thô lậu ấy.

–0o0–

“Ok. Tụi mày cứ ở yên đấy. Bên thằng Tèo sao rồi? Cứ có động tĩnh là phải báo lại cho tao biết ngay đấy. Thằng Hùng này không phải loại đơn giản đâu, với cái đầu của nó mà chơi lén anh em mình thì khó mà phòng bị lắm, cứ phải giăng lưới sẵn cái đã. Còn bên thằng Bê sao rồi? Chiều nay mày qua thông báo với nó con Cadilac tao muốn thu lại để mai tao dẫn bạn gái đi Đã Nẵng. Còn nữa, kêu thằng Chí …”

Trùm Tuyên già tay cầm phone nói sang sảng như giữa chốn không người tại một khách sạn hạng sang tọa lạc ngay trung tâm Sài Gòn. Tay còn lại đang ôm eo ếch một cô nàng chân dài môi hồng da đánh phấn trắng bệch, váy ngắn đến sát mông, mùi nước hoa nồng nặc đến nỗi ai đi qua cũng tưởng rằng cô ta dễ có đổ cả nửa chai dầu thơm lên người, cùng đôi bốt được đánh véc-ni bóng lộn vô cùng hào nhoáng. Nghe đâu Tuyên già vừa tặng cô nàng căn nhà ở ngay trung tâm Đà Lạt, lại thêm nào là vòng vàng, nhẫn hột xoàn, dây chuyên đủ thứ.

“Anh này. Đi chơi mà cứ bàn chuyện công việc hoài nè. Giận gì đâu luôn đó.”

Cô nàng vểnh đôi môi son lên nũng nịu, đồng thời cạ bộ ngực nảy nở vào sát bên cánh tay của Tuyên với bộ dáng vô cùng ngây thơ, hồn nhiên.

Tuyên già không thèm để ý, lại nói tiếp:

“Mà nè, nhớ nhắc thằng Tí rô và thằng Tony rà soát hết tất cả các bệnh viện ở Sài Gòn một lượt nữa cho tao. Vụ đợt trước tụi mày để nó xổng khỏi Chợ Rẫy coi như tao cho nợ đó. Liệu hồn mà làm cho tốt đi. Ok, tao có điện thoại, lúc khác tao gọi lại.”

Tuyên già buông cánh tay đang ôm cô nàng bên cạnh ra, móc từ túi áo một cái phone khác, bấm nút rồi kê sát bên thái dương nói lớn:

“Quẩy? A, Trần sư phụ. Ni hảo ma? Hảo chịu bủ chen. Ha ha ha…”

Sau đó lại tuông một tràng tiếng Tàu nhanh đến nỗi cô gái đứng sát bên cạnh cũng phải tròn mắt lên mà nhìn chăm chăm một cách thán phục, trong lòng thầm nghĩ mình trao thân cho ông già này quả là một lựa chọn sáng suốt.

–o0o–

Để đến được đất Nha Trang và tìm được chỗ ổn định quả thực lại là một hành trình gian nan và nguy hiểm của tôi và Nhiên. Sau bao nhiêu bủa vây trùng trùng từ Bê và Tuyên già, vượt biết bao nhiêu thiên la địa võng của bọn nó, hai người chúng tôi rốt cuộc đã có thể tìm được cho mình chốn yên thân. Và còn những chuyện khác nữa, nào là mưu sinh nơi đất lạ quê người, nào là chữa bệnh cho Nhiên, nào cơm áo gạo tiền, ôi thôi đủ thứ nó chèn lắp hết cái bộ não chỉ to hơn trái nho một chút xíu của tôi.

Quá trình đó đã diễn ra như thế nào ư?

Dựa theo mấy câu mà mấy ông nhà văn Mỹ vẫn thường nói: Đó lại là một câu chuyện khác.

Tôi sớm đã vứt hết ra khỏi não rồi. Ở đây tôi có người mình yêu thương, ở đây tôi có cuộc sống bình lặng và hạnh phúc. Vậy là đủ. Những chiến hữu khi xưa, những anh em từng thề vào sinh ra tử, tôi dẫu có gặp lại bọn họ thì cũng xin lỗi vì đã làm một thằng hèn thất hứa thôi. Cuộc sống mà, con người mà, luôn luôn phải thay đổi, chỉ cần biết rằng bản thân đã thay đổi tích cực vì người mình thương yêu và dâng hiến.

kết cuộc

“Anh em của tao, mày dám động vào tức là không nể mặt thằng này. Hàng và gái tao có thể không cần, nhưng anh em chính là mạng của tao.”

Những lời đàm thoại nghe có vẻ hùng tráng như vậy luôn có thể được nghe từ những bộ phim xã hội đen Hồng Kông đang rất thịnh vào thời đó. Chẳng như mấy ông tây mắt xanh mũi lõ, mà cả bọn con gái, con trai mới lớn đều mê tít thò lò mấy anh diễn viên đẹp trai phong độ và giọng nói trầm trầm lôi cuốn ấy. Dân tình thời bấy giờ xem phim chẳng kể kịch bản có hay dở ra sao, chỉ cần là phim Hồng Kông là y như rằng bằng mọi giá phải đi xem cho được, đa phần đều chỉ là mấy thể loại đánh đấm chém giết thật hoành tráng với đoạn kết là nhân vật chính cứu thoát nữ chính khỏi vòng xiềng xích thông qua một quá trình đánh đấm đầy cam go.

“Người trong giang hồ mà, anh em chính là máu mủ. Máu kia có thể chảy vì anh em, xưa nay đều cho đó là đúng, tình nghĩa chúng ta trời sinh cho nhau, cuộc đời chúng ta chính là chiến đấu bên nhau.”

Trước mỗi lần chuẩn bị đến cảnh chém giết đẫm máu, đạn bay vèo vèo không bao giờ hết khoanh, thì không thể thiếu mấy câu đại loại cắt máu ăn thề như thế, khán giả chẳng cần phải tập trung quá nhiều vào bộ phim, chỉ cần ngáp ngắn ngáp dài chờ cho đến khi đoạn đối thoại này được xướng lên, thì y như rằng ngay sau đó không lâu sẽ đến phần chính của bộ phim, mà cuộn phim có hay dở hay không thì cũng chỉ vỏn vẹn có mấy phút này mà thôi.

Tất nhiên đám trẻ con kiếm sống bằng tiền thiên hạ như chúng tôi, có được cái chỗ đặt lưng cho tử tế cũng đã là điều may mắn rồi, nói gì đến việc được đi xem phim Hông Kông. Nói là vậy nhưng bọn nhóc mấy đứa chúng tôi vẫn có cách để được xem miễn phí. Thậm chí có một bận rạp Cathay vắng khách, cả đám khoét một cái lỗ có thể lách người qua được ở phía sau rạp, tuồn vào toilet nữ, đợi lúc không còn ai đi qua lại, cả bọn mới dám thò mặt ra khỏi toilet, rồi sau đó ngang nhiên bước, đi vào rạp ngồi coi như thật sự đã mua vé từ trước, đó cũng là lần đầu tiên bọn nhóc đầu đường xó chợ được nếm cảm giác của giới thượng lưu là thế nào. Sau buổi dù vé ấy, cả đến hơn tuần lễ mà bọn nhóc vẫn không thể kiềm nén được nỗi hưng phấn trong lòng, cứ gặp nhau là tán đủ chuyện về bộ phim ấy, đồng thời còn có mấy đứa hơi lớn một chút thậm chí còn bắt chước phim cắt máu ăn thề vô cùng trang nghiêm. Tất nhiên đi xem phim thì từ nhỏ Hai Hùng này phải nói là đi chán, nhưng cái không khí này lại khác hẳn lúc xưa, cho nên tôi cũng kích động lắm. Với thân phận là đàn anh, khi ấy tôi mới đứng ra tuyên bố lễ kết nghĩa anh em, sinh tử có nhau hùm bà lằng, làm cho đám nhóc nhở nhở thấy vậy kính nể không thôi, hai mắt cứ sáng lên nhìn chằm chặp vào chúng tôi với lòng ngưỡng mộ và tất nhiên đầy kích động.

Những anh em ngày ấy kết ngĩa, giờ đây sát cánh bên nhau chiến đấu vô cùng thảm liệt. Chẳng phải như trong màn ảnh nữa, mà đời thực nó khốc liệt hơn nhiều. Tiếng gậy sắt đập vào xương cốt nghe ghê rợn, tiếng la hét, chửi bới cùng rên rỉ vang lên không dứt, phía trên mưa vẫn rơi rất dày, tất cả trộn lẫn tạo thành một thứ âm thanh kì quái và đầy khiếp hãi. Có người đã ngã xuống trong vũng nước, máu loang dần biến những dòng nước mưa trở thành màu đỏ như nước ép dâu, gậy sắt vụt lên loang loáng dưới ánh đèn neon vàng vọt, thân người ngã xuống trên những vũng đo đỏ ấy, bất động.

Chỉ trong chưa đầy 20 phút đồng hồ, hơn ba mươi người đã mất khả năng vận động, nhìn quang cảnh thật sự còn hùng tráng hơn cả những bộ phim xã hội đen mà tôi đã từng xem, lúc này hầu như chẳng có ai biết sợ là gì cả, cứ lao vào nhau đánh đấm, vụt gậy, chém dao không dứt, hễ là có đối thủ trước mặt thì tức là sẽ thẳng tay không từ.

Bên Bê, vì thiếu người cầm đầu nên rất nhanh mất đi ý chí chiến đấu, lại nghe tiếng súng phát ra làm cho bọn chúng chùn chân, tạo điều kiện cho quân tôi áp đảo toàn diện. Tuy nhiên lúc này, quân của Tuyên già đã bao vây hai mặt trước sau, kín như nêm, quả là tình huống lúc này thậm chí còn nguy ngập hơn cả khi phải đối đầu trực diện với quân của Bê nhiều.

Tôi nhanh chóng quát gào các anh em tập trung lại, sau đó hướng dẫn cho bọn họ tập trung đánh vào một điểm để tìm đường máu thoát thân, dẫu sao nếu thoát khỏi con đường này, Quận 3 là địa bàn của chúng tôi, cả bọn sẽ biết phải ẩn núp vào nơi đâu rồi.

Ngay lập tức, tôi rút khẩu Beretta 92 dẫn đầu, mấy anh em khác gồm An, Tuyên và Hải đều theo sát phía sau, khí thế chiến đấu vẫn hừng hực như chưa hề phát sinh trận đấu mới vừa rồi với toán của Bê.

Bọn đàn em của Tuyên già khi thấy tôi rút súng thì sắc mặt thoáng cái trắng bệch, thằng cầm đầu phía đối diện kia thì tôi đã nhìn rõ mặt, và cũng từng quen biết nó. Chính là thằng Tony, đàn em dưới tay của Tuyên già, xếp hàng thứ 7 trong số những thân tín được trọng dụng nhiều nhất của gã.

Tony nó cũng là người người Việt thôi, nhưng ngày trước vì theo đổi một cô đào ở sàn Bee mà gã đổi danh xưng cho nó lịch thiệp, đặng có thể khoe mẽ chút vốn liếng tiếng Anh gà mờ trước mặt người đẹp. Thời ấy thì mấy tên thanh niên choai choai thích lấy tên tiếng Anh cho oai, đây cũng chẳng phải sự lạ gì.

Tony nhìn chăm chăm vào khẩu súng đang chĩa thẳng vào nó mà tôi đang cầm, cử chỉ trên người của nó báo cho tôi biết là bên cánh quân của nó đã muốn nới lỏng ra để quân của tôi có thể rút lui, dẫu sao cũng chẳng có thằng nào ngu đến mức đi thay người khác lãnh một viên đạn cả, mạng còn thì sau này việc gì muốn cũng có thể thực hiện, chứ mạng đã mất thì dẫu có trăm ngàn ước muốn cũng chỉ là mây khói thôi.

Đã áp sát vào đội hình của Tony, trong lòng tôi mừng thầm nhưng đột nhiên lúc này lại có biến cố khác xảy ra. Một thằng đàn em của Tony nhằm lúc tôi đi ngang qua đã giơ gậy lên đánh lén, tôi tuy đã phản ứng kíp thời né tránh và giơ súng muốn bóp cò cho thằng chó ấy một viên vào đùi thế nhưng khẩu súng chỉ vang lên một tiếng tạch, sau đó tắt ngắm. Không khí bỗng chốc như nín lặng sau tiếng tạch khe khẽ ấy. nhưng rồi rất nhanh, biển người chung quanh chúng tôi như nhận thức được điều gì đó, bỗng chốc nhảy bổ tới như con sóng dữ.

Không biết có phải đạn ngấm nước mưa nên không nổ hay không? Nhưng lúc này dã chẳng còn thời gian để đi tìm hiểu nguyên do nữa. Toán người chúng tôi hiện đang gồng mình chiến đấu với bốn phương tám hướng là gậy gộc, tuýp sắt cùng dao kiếm loang loáng. Nếu nhìn toàn cục thì lúc này đám chúng tôi không khác gì toán quân của Bê bị chúng tôi bao vây đánh tới tắp khi nãy, bị động phòng thủ hết sức khó khăn.

Thân người liên tiếp ngã gục xuống đường, bị những vũng nước mưa phủ lên lưng áo.

Vừa liếc thấy bên phía thằng Hải bị hai thằng khác đánh tới tấp, tôi lập tức giơ batoong lao vào trợ chiến, vừa bức lui được một thằng thì đùi trái đau điếng, nhìn lại đã thấy một cây gỗ to đập trúng. Tôi ngiến răng quật batoong trở ngược, thúc mạnh vào ngực thằng đánh lén, còn chưa kịp xoay ngươi nhìn cho rõ vết thương đang đau nhức như muốn mất hết cảm giác thì lại nghe truyền đến tiếng hét lớn, cùng lúc là một bóng đen lao vào tôi nhanh đến độ không kịp phản ứng.

Bên tai chỉ nghe tiếng một rốp, sau lại là một tiếng chát thật lớn. Liếc mắt thật nhanh nhìn lại thì phát hiện người đang chắn trước mặt mình là thằng An, ba sườn của nó bị một cây batoong đập trúng, sau gáy lại dính thêm một gậy khác, thế nhưng nó vẫn đứng hiên ngang như không hề có chuyện gì, sau khi nắm chắc cây batoong trong tay, An quật liên tiếp hai cái, ngay lập tức đầu của hai thằng đối diện tóe máu, lăn ra đất không còn biết sống chết.

Sau khi biến hai thằng đối diện thành hai cái bị rách thì An cũng đổ gục xuống như cây chuối. Rất may là tôi phản ứng kịp thời nên đã giữ lại được, chỉ cảm thấy một bên sườn của nó mềm oặt, có lẽ đã gãy vài cái rồi. Bên cạnh đó, máu sau đầu không ngừng túa ra, làm ướt đẩm một mảng lưng áo. Cùng lúc, lại thêm ba anh em khác của tôi ngã sấp xuống mặt đường, gậy gộc phía trên đầu lại không ngừng mà còn tiếp tục vụt xuống. Trong tích tắc ngắn ngủi, chung quanh tôi chỉ còn lại lơ thơ vài người, vẫn đang khổ sở chiến đấu.

Hai tròng mắt của tôi lúc này đỏ ngẩu, batoong trong tay huơ loạn xạ, mọi giác quan toàn thân đều không còn cảm thấy gì nữa. Ông não, người vẫn luôn trò chuyện với tôi từng giây từng phút, lúc này cũng im bặt không thấy tăm hơi. Mọi thứ trước mắt tôi cứ tối sầm hẳn lại, rồi chìm vào trong vô thức.

Vài ngày sau, câu chuyện đám giang hồ Sài Gòn thanh toán lẫn nhau được người dân chung quanh bàn ra tán vào không dứt, đến cả mấy tờ báo lá cải cũng tranh thủ cơ hội kiếm chác một ít. Cảnh sát, phóng viên, y bác sĩ cùng lượng lớn dân tình đen đỏ chen chúc nhau ở đây để làm công tác chuyên môn và tán chuyện.

Có người bảo:

“Thảm lắm. Anh Ba không biết chứ, bữa đó máu nhuộm đỏ con đường, xác người bị nước mưa cuốn đi, trôi lềnh phềnh. Cả thảy trăm thằng giang hồ đâm chém nhau tới chết hơn chín phần, thậm chí đến đêm mà tui vẫn còn nghe rõ tiếng rên rỉ phát ra từ phía dưới đường. Sợ quá mất ngủ cả mấy ngày nay đó.”

Người lại nói:

“Anh phóng viên gì đấy nhỉ? Để tui kể lại cho mà nghe. Chiều hôm ấy tui còn đang bận dọn hàng, chuẩn bị kéo xe hủ tíu ra ga rồi xếp bàn đứng bán. Ai dè bọn nó lao vào, thằng rút cây củi đang đốt dưới nồi, thằng rút dao phay, dao diếp rồi bặm trợn đi thẳng, tui đây sợ quá, hai cái bắp dế cứng đơ ra không đi được chút nào.”

“Dạ, xin lỗi, anh có thể kể chi tiết hơn được không, anh Hà?”

“Ồ chi tiết nữa à? Chẳng là vầy, lô thịt tái tui mới đặt mua ở Vũng Tàu, vừa vớt ra khỏi bị, chưa kịp nhúng sơ qua thì bọn nó cũng bưng đi sạch. Tui còn nhớ rõ một trong mấy thằng đó có con mắt gian lắm, nhìn quen ơi là quen mà nghĩ miết không nhớ ra là ai. May mà tui mới lấy ra có một bịch, không thì bận này lỗ cha nó rồi.”

Tay phóng viên cùng người bán hủ tiếu một đáp một hỏi, trên vẻ mặt tay phóng viên ấy càng lúc càng đỏ gay lên mất kiên nhẫn, mà ông bán hủ tíu vừa loay hoay chăm củi vào đáy nồi, thái rau, hành lá vừa huyên thuyên luôn mồm, vừa nhìn qua đã biết là tay nhiều chuyện rồi.

“Chào anh, chúng tôi đến từ báo Sài Gòn Gia Định, muốn phỏng vấn anh một ít chi tiết vụ việc vừa diễn ra trong vụ ẩu đả lớn tuần trước, xin phép anh cho vài lời miêu tả được không ạ?”

Là một nữ phóng viên tuổi chừng 30, trên má có nhiều tàn nhang cùng cái mũi to khác thường, trước ngực mang một tấm thẻ ngành phóng viên có dán một tấm hình 3×4 hơi nhòe và hàng chữ đen được in đậm. Cô này sau khi bắt chuyện một thanh niên tay ôm một cái bao giấy đựng bánh mì thì trưng thẻ ngành ra cho người này thấy, sau đó giơ cái mi-cờ-rô to như cái đùi gà tây lên trước mặt anh ta. Người thanh niên thấy vậy vừa hồi hộp vừa hưng phấn hỏi nhỏ:

“Sao? Sao? Phỏng vấn tui à? Có, có máy quay nữa đúng không cô?”

Cô này nhẹ gật đầu, rồi nghiêng đầu một cái ra hiệu máy quay đã sẵn sàng ghi hình.

Người thanh niên thấy vậy, lập tức thẳng lưng ưỡn ngực, sắc mặc trang trọng khác hẳn mới vừa rồi. Nhích sang bên trái một chút, đứng sát người cô phóng viên, sau khi nhìn thẳng vào ống kình anh ta mới bắt đầu mở miệng nói:

“Cu tí ơi cu tí, ba lên tivi nè. Mẹ nó đã thấy ba chưa? Ông bà nội đã thấy ba chưa?”

“Mọi người im lặng. Mọi người im lặng. Đây là quyền Giám đốc sở Cảnh sát Sài Gòn Gia Định, nguyên bí thư Đảng ủy, ủy viên ban chấp hành Đảng Cộng Sản Việt Nam, hôm nay đến đây để khảo sát tình hình, yêu cầu mọi người giữ trật tự. Dạ, xin mời ông… ”

Chuyện chẳng đâu vào đâu mà dân thời cứ hết bàn ra rồi tán vào, xào nặn cho tình tiết càng ngày càng bốc lên tới đỉnh. Cảnh sát thì ghi ghi chép chép, chụp ảnh, lưu hồ sơ. Phóng viên thì liên mồm phỏng vấn này kia khác nọ, ghi âm, ghi hình. Dân đen lại được dịp khua môi múa mép, không ít người còn tận dụng cơ hội này kiếm chác, dựng tạm một cái sạp nhỏ bên vệ đường, bán trà đá, thuốc lá, kẹo mứt đủ thứ.

Chẳng biết trải qua bao lâu, nhưng tôi cảm thấy dường như tay chân đã tê mỏi lắm rồi, cứ đau nhức từng chập truyền tới, làm tôi giật mình một cái. Chỉ thấy chung quanh trắng nhờ nhờ như đi trong sương mù Đà Lạt. Nhìn lại mình, thì cũng không thấy rõ bộ phận thân thể đâu nữa, cứ như đang lơ lững ở một nơi vô định nào đó, trong đầu vẫn lâng lâng chưa tỉnh.

“Tỉnh rồi hả nhóc. Ngủ gì mà như chết thế. Ngoài kia banh chành ra sao có biết hay không? Thế mà vẫn ngủ được như heo? Tài thật.”

“Tôi đang ở chỗ nào vậy, mà mấy người khác sao rồi, ông có biết không?”

“Há há, nhà ngươi không phải lúc trước từng nói không tin ông đây nữa hay sao? Mần sao lại đi hỏi ông mấy thứ nhà ngươi không biết?”

“Ông đừng giỡn nữa, lúc nào rồi mà còn cười đùa được. Tôi nhớ lúc chưa bất tỉnh, hình như thằng An bị thương nặng lắm, sau đầu nó còn chảy máu nữa. Lúc đó ông không thấy thì còn ai thấy, mau kể cho tôi nghe đi.”

“Nói thật với nhà ngươi là ta cũng không biết. Mà nhà ngươi lo cho người khác làm gì? Hiện tại còn chưa lo được cho mình mà còn. Ài, nói nhiều như vậy ông đây bắt đầu thấy mệt rồi, thôi thì ông mở cửa cho nhà ngươi hết đấy. Cảm gì, học gì thì tự ý nhà ngươi đi.”

“Ông nói vậy là sao? Mở cái gì? Mà đó là gì?”

Chỉ cảm thấy bên tai truyền vào không ít âm thanh lạ lẫm, vừa gấp gáp vừa lo lắng.

“Mau mau, truyền 300cc máu nữa, gọi cho bác sĩ trưởng khoa gấp. Ca này khó đây.”

“Huyết áp đang giảm nhanh, mau chuẩn bị máy trợ tim, thêm 10cc thuốc an thần nữa.”

“Thưa bác sĩ, bệnh nhân có dấu hiệu suy hô hấp.”

“Điện tâm đồ đang bất ổn định.”

“Thưa bác sĩ, phát hiện một khối u phía sau đại não, và đang xuất huyết, có khả năng …”

“Nghe tình hình chung quanh thì có vẻ hiện tại tôi cũng không tốt đẹp gì mấy, khà khà. Hơn 20 năm sống trên cuộc đời, rồi vào đây dăm vài ba tiếng sau đó đi gặp ông già sao?”

“Hừm, cũng chưa chắc, ông đây vẫn có cách làm cho nhà ngươi sống tốt thêm mấy chục năm nữa, có điều di chứng thì không thể tránh khỏi.”

“Ông nói có cách, là cách gì? Mà ông thì làm được cái mẹ gì nữa đâu mà có với chả không?”

“Người ta nói, 20 năm là một lớp người, quả cũng đúng thật. Ông đây không còn nhớ rõ mình đã sống qua bao nhiêu năm tháng nữa. Chỉ nhớ rằng hình như đã từng nói chuyện với rất nhiều người. Thú vị có, sầu thảm, dâm đãng, biến thái cũng có. Nhưng mỗi người đều mang lại cho ông một câu chuyện khác hẳn, nếu trên đời có thứ số kiếp, thì không biết ông đây thuộc số nào. Có lẽ ông đây chưa hẳn là một sinh vật sống, bằng vào suy luận của một tay giáo sư biến thái mà ông đây từng nói chuyện lúc trước. Nhưng nếu ông đây không phải sinh vật sống, thì làm sao ông đây nói chuyện, suy nghĩ được? Nhưng nếu ông đây là sinh vật, cớ làm sao ông đây thấy được tất cả nhưng không bao giờ tự thấy bản thân mình. Ông đây từng hỏi đi hỏi lại rất nhiều rồi. Cũng như nhà ngươi hay hỏi đấy, tôi là ai?”

“Theo như ông nói thì hễ có một người chết thì ông sẽ ‘di chuyển’ sang một người khác để ‘nói chuyện’ sao? Mà ông di chuyển bằng cách nào?”

“Ta không biết. Chỉ biết rằng khi ta bắt đầu nói chuyện với nhà ngươi thì những thứ trước kia chỉ mờ nhạt mông lung mà thôi, không còn sót lại gì nhiều.”

Ông não đột nhiên thay đổi lối xưng hô từ “Ông đây” sang “Ta”, không biết ông ta có dụng ý gì.

“Nhà ngươi đừng ngắt lời, ta muốn nói thêm một chút nữa. Cảm giác này quen lắm, có vẻ như hai ta không còn nó chuyện với nhau lâu nữa đâu.”

“Còn nhớ lần đầu chúng ta nói chuyện với nhau không? Lúc ấy nhà ngươi thật sự như một con gà non tơ dốt nát và bướng bỉnh, nếu như không phải ta chứng minh cho nhà ngươi thấy hai chúng ta có hai suy nghĩ khác biệt nhau thì có lẽ đến chết nhà ngươi cũng không tin trong não mình đang có hai người. Đúng không?”

“Nếu như ta không khuyến khích nhà ngươi đọc thêm sách vở, không chỉ dẫn mấy đường cơ bản thì nhà ngươi thử nghĩ xem, hiện tại sẽ có ngày hôm nay hay không? Mà nói thế hơi quá, nếu như không có ngày hôm nay, có lẽ sẽ tốt hơn.”

Tôi vẫn một mực im lặng, trên thân thể truyền đến từng trận rung nhẹ, dẫu chỉ hơi tê một chút nhưng tôi biết các bác sĩ ngoài kia đang vắt hết mồ hôi của mình ra để cứu sống cho tôi.

“Khi nhà ngươi đã có một chút suy nghĩ, thì lại làm ta bất ngờ về sự tò mò của nhà ngươi. Suy nghĩ là một thứ gì đó thật vi diệu, nó đưa chúng ta đi xa hơn bất kỳ cái gì chúng ta đạt được, nhưng cũng làm chúng ta lẩn quẩn mãi với những đáp án mù mờ.”

“Ừm, không sai, ta cũng bó tay không biết mình là ai? Nếu ta có đủ quyền lực để chiếm hết thân thể này của nhà ngươi, thì ta biết ta là ngươi. Nhưng nếu ngươi bị đánh bật ra khỏi chỗ cũ, thì có lẽ nhà ngươi sẽ trở thành ta. Vậy thì thật là oái ăm.”

“Kinh nghiệm của ta không thể sao chép cho nhà ngươi, cuộc sống của nhà ngươi không đủ cho ta. Thời gian 6 năm chắc cũng đủ để 2 bộ não lớn nhỏ nói chuyện với nhau rõ ràng, chỉ hiềm một nỗi không biết ai là ai.”

Ông ta cứ nói một quãng lại dừng một quãng, giọng nói có vẻ yếu ớt hơn hẳn lúc trước.

“Trước đến giờ ông đây chưa từng nghĩ đến chết, bỡi lẽ hình như những người nói chuyện trước kia với ta đều chết trước khi ta mất đi tri giác, nhưng bởi vậy lại khiến cho ta cảm thấy cô đơn đến khổ sở khi chỉ còn một mình. Thời gian trong tâm tưởng nó lâu mau tùy vào suy nghĩ của chúng ta, nhưng nếu không có vật để tham chiếu thì dẫu chỉ có một khoảng ngủi cũng sẽ khiến người ta mất đi kiên nhẫn, giầy vò bản thân trong sự tịch mịch, buồn tẻ.”

“Nhưng đến bây giờ, ta cảm thấy đã đủ rồi. Cuộc đời con người cớ làm sao phải chấp nhận đọa đày trong cái bể khổ khốn nạn như vầy? Tại sao ngoài kia còn rộng lớn biết bao nhiêu, tự do biết bao nhiêu nhưng bọn họ vẫn phải lao vào vạc dầu này để chịu khổ? Ta còn nhớ, sau một lần bị thằng lính Mỹ dùng tay đập đầu vào tường đến chảy máu, sau một đêm mông lung thì ta xuất hiện và nói chuyện cùng một người phụ nữ. Cô ta là gái mại dâm, phòng trọ cũng chỉ cách chỗ này 3, 4 con phố. Thường ngày thì cô ta tiếp khách, đứa con nhỏ được đặt bên cạnh, cô ta lấy mấy món đồ chơi rẻ tiền vứt chung quanh để nó chơi, còn mình thì cùng khách ân ái trên cái giường gỗ ọp ép. Cả căn nhà cũng tồi tàn không sao chịu nổi, cảnh sống khốn khổ cùng cực như vậy cứ tiếp diễn ngày qua ngày, đôi khi nước mắt cô ta chảy dài quanh má trong khi ngủ, thế nhưng vẫn phải tiếp tục cuộc đời khốn khổ ấy. Cho đến khi ta nói chuyện với cô ta. Bảy ngày, chỉ vỏn vên bảy ngày, hai chúng ta nói chuyện với nhau rất lâu, hầu như không ngủ, ta cảm thấy sau mỗi ngày như vậy, tinh thần cô ta lại tốt hơn một chút, những nếp nhăn trên trán đã giảm đi một chút. Cô ta bắt đầu cảm thấy âu yếm con mình hơn, không đay nghiến chua chát như trước nữa. Đó là những chuyện gì thì ta quên hết rồi, chỉ nhớ vào một buổi chiều ngày thứ 7, sau khi tiếp một thằng lính Mỹ, trong lúc nó không chú ý đã rút phăng khẩu súng lục của nó và nả đạn vào đầu mình. Mọi chuyện xảy ra vô cùng nhanh, thằng lính Mỹ lúc ấy vì sợ quá mà tè cả ra quần, mà lúc ấy cái quần dài nó còn chưa kịp mặc vào nữa. Trong mấy phút cuối cùng ấy, ta nghe cô ta cảm ơn ta rất nhiều, và hy vọng đứa con gái bé nhỏ của cô ta tương lai sẽ có cuộc sống tốt hơn, đừng như mẹ nó mà phải đọa thân nơi khốn khổ này, còn nếu không thì cô chỉ mong sao trời phật cho nó chết sớm, như vậy có lẽ còn thanh thản hơn.”

“Khoan đã. Ông nói là ông nói chuyện được với cô ta sau khi bị đập đầu vào tường sao?”

“Đúng vậy. Có gì lạ đâu?”

“Tôi nhớ là sau khi bị thằng Tư thọt ném ra đường, hình như đầu tôi cũng bị đập vào chỗ nào đó mạnh lắm, đến nỗi bất tỉnh luôn.”

“Ừ, sau đó thì nhà ngươi ra ngoài chân cầu ngủ, rồi ta xuất hiện chứ gì? Đúng thật. Hình như ta nghĩ ra cái gì đó.”

“Đúng thế, đúng thế. Mà khi nãy tôi nghe y tá nói sau não tôi có khối u gì đấy, không khéo chuyến này hai đứa mình lên bàn thờ mất.”

“Ừ, cứ cho là vậy đi. Mà bây giờ thì chuyện đó đâu còn quan trọng gì nữa.”

“Phải, nhưng tôi muốn hỏi một chút. Nếu ông nói bể khổ không còn đáng sống nữa thì nơi nào mới yên ổn để sống? Nếu ai cũng chết ráo hết thì bể khổ này có còn khổ nữa hay không?”

“Nhà ngươi đừng có hỏi ta. Ta cũng bó tay, dẫu sao thì não vẫn là của nhà ngươi, ta đây cần quái gì phải đi suy nghĩ giúp nhà ngươi. Nhưng nhà ngươi nói cũng có phần đúng, nếu người người đều chọn nơi không phải là bể khổ để mà sống, thì riết hồi chắc nơi ấy cũng là bể khổ mà thôi.”

“Ông nói lảng sang chuyện quái gì thế? Tôi chỉ hỏi ông xem, sau khi từ bỏ cái bể khổ này, thì ông không thấy khổ, nhưng còn những người khác thì sao? Họ vẫn phải chịu khổ mà. Lối suy nghĩ của ông chẳng mang lại chút xíu tính giải quyết nào.”

“Ừ. Bể khổ thì dẫu là nơi nào cũng chỉ là nó mà thôi. Nhưng con người chúng ta khác con vật nhiều lắm, chúng ta luôn có cách của riêng mình. Nếu nói sự yêu thương và hy sinh cho nhau làm cho con người ta mạnh mẽ lên, nhà ngươi có tin hay không?”

“Trong suốt cái cuộc đời, kể cho đến lúc này. Tôi mới là thằng nghiệm chứng điều đó nhiều nhất. Nhưng tôi thấy thì tình cảm chỉ ở một mức nào đó mà thôi, qua rồi thì sau thời gian cũng sẽ phai dần, làm gì có thứ tình cảm nào bền lâu khi không vun đắp thường xuyên được.”

“Hừ, một thằng nhóc như nhà ngươi thì làm sao có thể hiểu được. Vậy ông đây sẽ chứng minh cho nhà ngươi thấy. Nói tiếp, hơn 6 năm ở chung, ta cảm thấy nhà ngươi là một thằng nhóc không tệ, dù có hơi cứng đầu và dốt nát một tí nhưng dù sao vẫn còn đào tạo được.”

“Ông đang khen hay đang chửi tôi thế. Nghe sao mà nhức tai không chịu được. Mà sao tự nhiên tôi thấy khó chịu vậy kìa? Có phải là tôi chết rồi hay không? Này, này, nói với tôi cái gì đó đi chứ.”

Nói tới đây bỗng dưng tôi mất đi tri giác, mọi thứ chung quanh lại lần nữa rơi vào yên tĩnh trầm lắng cực độ. Không hề có tí âm thanh nào, không ánh sáng, cũng không cảm thấy được gì nữa. Bốn phía chung quanh không biết nên dùng từ gì để tả cho chính xác, là màu trắng cũng đúng, mà hình như đen cũng không sai. Mông lung và mờ ảo, tôi đã mù rồi, và điếc nữa, không chắc lắm nhưng cũng không có gì để chứng minh là mình sai cả.

“Dẫu thế nào mặc lòng. Ừm, dẫu thế nào mặc lòng, câu này dùng ở đây có vẻ hợp đấy, nói sao đi nữa thì hai chúng ta cũng đã là bạn của nhau lâu năm, ông đây cũng có chút thân thiết với nhà ngươi ít nhiều. Chắc nhà ngươi cũng cảm nhận được chút ít, dựa theo tình huống cơ thể hiện tại, có đến 90 phần trăm là hai chúng ta sẽ cùng đi lên bàn thờ, nếu như vậy, không bằng ta giúp ngươi lần này vậy. Dẫu sao thì cảnh đời nào rồi cũng sẽ kết thúc thôi, muốn kéo dài bao nhiêu đi nữa cũng không có mấy ý nghĩa. Biết đâu sau này … Ừm, cứ vậy đi.”

Ngưa ngứa và tê tê, lúc đầu còn thấy nhột nhột một tí, nhưng đến khi nó làm tôi mất kiên nhẫn đến khó chịu thì mới phát hiện phía bàn chân truyền đến cảm giác vừa đau vừa ngứa, lúc này tôi mới giật mình tỉnh lại. Trước mắt vẫn còn hơi mờ mờ, chỉ có thể đoán rằng mình đang nằm trên giường, chân trái bị treo lên quá đầu gối và bó bột to tướng.

Sau khi nhắp nháy mắt mấy cái, thị lực đã trở nên rõ ràng hơn, đây là một căn phòng nhỏ, bốn vách tường được sơn màu trắng sữa thanh thoát, nơi góc tường có một cái tủ gỗ, mặt trước gắn một tấm gương có điểm xuyến vài hoa văn mây nước, chim cá phía ngoài rìa. Căn phòng bày biện hết sức đơn sơ, tôi dám chắc rằng đây không phải là bệnh viện, nhưng xem ra cũng không phải là nhà của một người dân bình thường.

Khi đã lấy lại tỉnh táo, tôi dò xét một lượt thật kỹ tình hình của mình hiện giờ, đồng thời cũng muốn hỏi ông não xem tôi đã thiếp đi được bao lâu rồi, ai đã cứu tôi và còn mấy chuyện liên quan khác nữa. Dẫu sao thì tuy tôi bất tỉnh nhưng đoán chắc rằng ông ta không bao giờ ngủ và nghỉ ngơi cả, suốt hơn 6 năm nay tôi đều để ý thấy ông ta như thế. Dường như trong suy nghĩ của ông luôn trăn trở về một điều gì đấy, và nói ra là để giải tỏa một ít áp lực tâm lý mà thôi.

Nhưng lạ một điều là tôi không còn khả năng nói chuyện trong tiềm thức nữa, hay nói đúng hơn là trong đầu tôi không còn vang lên bất cứ âm thanh nào nữa. Tôi hỏi ông ta, cũng đồng thời miệng của tôi hé ra và phát ra âm thanh luôn. Dường như có cái gì khang khác so với trước kia, tôi thử đi thử lại mấy lần nữa thì hoàn toàn xác định rằng đó là điều chính xác. Cũng tức là từ giờ tôi hoàn toàn điều khiển mọi hoạt động của cơ thể này, mà cũng tức là não hiện giờ là của tôi rồi, hay nói cho đúng hơn, tôi chính là bộ não này rồi.

Nằm bất động hồi lâu, tôi đã có thể đoán được phần nào lý do của việc này. Hai khóe mắt tôi hơi nóng, rồi không kiềm được, hai dòng nước mắt lặng lẽ tuôn ra, chảy dọc theo hai bên thái dương. Vậy là kết thúc sao, tuy rằng thường ngày tôi và ông ta luôn luôn cãi nhau, thế nhưng trong thâm tâm tôi đã coi lão là bạn rồi.

Bạn tôi. Người bạn không thực nhưng vô cùng giàu ý nghĩa.

bẫy rập

Mưa càng lúc càng nặng hạt hơn, từng hạt từng hạt to như hạt đậu xanh đập thẳng lên mặt, lên cổ vừa đau rát vừa mát rượi. Từ nhỏ đến giờ tôi không ít lần tắm mưa, tất nhiên cũng hưởng thụ hết cái sảng khoái của tắm mưa. Nếu là lúc bình thường, chắc chắn bọn nhóc chúng tôi đã cởi truồng rồi lao ra vùng vẫy cùng mưa rồi.

Thuở ấy thật là vui vẻ biết bao nhiêu.

Thuở ấy thật tự do biết mấy.

Nhưng giờ này, ngày hôm nay, chúng tôi đã chẳng còn là những đứa trẻ con thò lò mũi xanh nữa, quá khứ nô đùa khi xưa mấy ai trong số bọn nhỏ còn thiết tha giữ lại đâu? Cuộc sống khốn nạn này buộc bọn chúng phải lao vào dòng người vô tình ngoài kia để mưu sinh. Bữa đói, bữa khát, đến chuyện làm sao để được ăn no thôi cũng đã làm cho bọn nhóc phải tính toán so đo khổ sở rồi. Đời là thế sao? Khi mày chẳng là gì thì chẳng gì nuôi sống được mày, khi mày là cặn bã thì thứ nuôi sống mày cũng chỉ là cặn bã. Thực tế khắc nghiệt này diễn ra hàng ngày trên từng mét vuông đất cát và đường nhựa của Sài Gòn, trong từng hơi thở của bọn trẻ. Ấy vậy mà rất ít khi tôi bắt gặp bọn nhỏ khóc, thường thì bọn nó luôn cười đùa vô cùng vui vẻ, dẫu có đói bụng một tí, thì bù lại bằng uống nhiều nước một tí, dẫu có mệt mỏi một tí, thì bù lại bằng anh em vui đùa, mở lòng ra một tí. Cuộc sống luôn có sự cân bằng hoàn hảo mà mỗi người trong chúng ta tự chấp nhận lấy.

Và tất nhiên nếu như đó là điều người khác thấy là bể khổ nhưng chúng ta lại không thấy, thì đâu còn là khổ nữa.

Về sau này, khi đã yên ổn tại một căn nhà nhỏ nằm sâu trong một con hẻm trải đá dăm ở Nha Trang, tôi mới có thời gian bắt đầu nghiền ngẫm lại quãng thời gian ở Sài Gòn, thật sự mà nói thì đến tôi cũng không tin nổi mình từng có thể sống như vậy ờ Sài Gòn mà vẫn tự cho rằng là sống, quả thực con người có sức chịu đứng và lòng kiên trì khó mà tưởng tượng được, dẫu lúc ấy nói cho hết lòng là tôi cùng bọn trẻ cũng chẳng thấy có bao nhiêu mệt nhọc, cùng khổ đau.

Chuyện của sau này, mấy ai biết được. Nhưng chuyện của bây giờ, tôi phải gồng mình mà thực hiện cho tốt cái đã.

Tay trái nắm chắc cây batoong lao vun vút về phía Tư thọt và Bê, theo sát phía sau tôi là An. Hai anh em tôi đã cùng dựa lưng chiến đấu qua không ít trận lớn nhỏ, lần nguy kịch gần đây nhất thì một trong hai thằng bọn tôi bị bó bột nửa tháng, thằng còn lại chỉ bầm đen một con mắt, rõ ràng là hai chúng tôi phối hợp rất ăn ý, cho nên từ trước đến giờ hội chúng tôi chưa đánh trận nào dở cả.

Tư thọt vừa mở miệng nói một câu đã bị tiếng thét của tôi làm cho giật nảy cả mình, mặt xám ngoét lại, không rõ là do trời mưa hay thật sự là vì sợ quá cho nên trông như mặt cắt không còn giọt máu. Bê vẫn còn giữ được nét trầm tĩnh, tay trái gã vung lên, lập tức hơn năm, sáu tên đàn em tay cầm batoong lao về phía trước.

Khoảng cách chỉ vỏn vẹn hơn 5 mét, cho nên hai bên rất nhanh đã tiếp cận nhau. Tay trái tôi vung lên, cây batoong quét ngang một đường, đập mạnh vào sườn trái của tên đầu tiên gặp được, nó hộc lên một tiếng rồi bị văng ra khỏi vòng chiến, dù đang mưa to nhưng với khoảng cách gần như vậy thì mọi người đều có thể nghe rõ tiếng xương gãy vang lên.

Khí thế bất ngờ và mãnh liệt này làm cho bọn đàn em phía sau hơi chững lại một chút, có vẻ bọn nó đã có chút nhận thức khiếp sợ rồi. Tiếp theo là hai tên đàn em khác của Bê, theo sát ngay phía sau, hai cây batoong của bọn chúng từ trên cao bổ thẳng xuống đầu tôi, không chút do dự tôi quỳ một gối xuống đồng thời nâng hai tay, dùng cây batoong chắn phía trên đầu mình. Cùng lúc đó An vặn hông, hai tay nắm chặt cây batoong quét ngang, đập thẳng vào má của tên đàn em đứng gần nhất, cây batoong vẫn còn lực làm cho đầu tên đàn em này đập vào mắt trái tên bên cạnh, rồi ngay lập tức An nhảy bật lên đạp thẳng vào bụng của tên đàn em vừa bị đập vào mắt ấy. Bởi tôi đã thu hút hết sự chú ý của hai thằng đó cho nên An mới có dịp thẳng tay ra đòn vừa nhanh vừa mạnh như vậy.

Chỉ trong tích tắc chưa đầy hai nhịp thở, ba thằng đàn em của Bê đã nằm đo đất không nhúc nhích, khí thế hùng hổ của bọn Bê ngay lập tức bị bóp nát, tất cả bỗng dưng chùng xuống. Tụi nó không ngờ chỉ vọn vẹn có hai thằng chúng tôi mà có thể ra đòn vừa nhanh vừa hiểm hóc như vậy, dẫu có là đại ca Bê cũng phải xám mặt đi, giật mình đánh thót.

Chỉ mất một chút xíu giật mình nhưng Bê được coi là đầu đàn của đám giang hồ Quận 2, tất nhiên chẳng phải hạng vừa, lập tức hét lên:

“Lao lên, cứ ba thằng đập một thằng.”

Sau đó cũng rút vũ khí ra, hùng hổ lao vào đám chúng tôi.

Rất nhanh một trận hỗn chiến khốc liệt đã diễn ra. Tiếng la hét, rên rỉ, chửi nhau vang lên không dứt, Người dân chung quanh sớm đã rút đi đâu hết không còn thấy bóng dáng, đường cái Sài Gòn lúc 7 giờ đêm mà vắng hoe chẳng khác gì đang lúc 2 giờ sáng.

Máu chảy rất nhiều, tiếng xương gãy, tiếng gào thét và la hét nghe mà rợn tóc gáy.

Vẫn là hai anh em tôi và An dựa lưng nhau mà vung batoong, cứ thấy thằng nào đầu chít khăn đen là mặc mẹ không cần biết là ai, cứ đập cho mấy gậy rồi nhìn kỹ cũng không muộn. Mấy đứa em của tôi cũng chẳng phải dạng xoàng, ít nhất nếu đánh tay đôi thì tụi nó thắng cái chắc, nhưng bên phía Bê kéo đến đông hơn, cho nên tạo một lực áp đảo không hề nhỏ.

Sau khi đập nát vai trái của một thằng mặc áo ba lỗ đối diện, tôi xoay ra phía sau An, dùng hai tay chống lên bả vai nó và nhúng mạnh chân, nhờ lực đẩy đó mà tôi lao vọt hẳn lên cao hơn so với toàn bộ, quét mắt một lượt hết tất cả tình hình đang diễn ra. Sau khi tiếp đất thì hét lên:

“Rút qua Lê Chân, rút qua Lê Chân.”

Mấy anh em khác nghe vậy thì nhanh chóng rút lui không dám ham chiến, trong tích tắc đang giằng co lại chuyển thành cục diện một chạy một đuổi. Tình hình bên phía hội chúng tôi đang rất nguy cấp.

“Thằng Bê cũng gan thật, dám dẫn đàn em nó qua Quận 3 chúng ta đánh lén, nếu hôm nay mà thua trận này chắc chắn không bao giờ ngóc đầu lên được.”

“Ừ, ông đây cũng bất ngờ, không biết nó dựa vào gì mà dám ngông nghênh như vậy. Nhưng nếu đã tới thì ta cho bọn nó biết ai là chủ nhà đi.”

Ông não xem ra rất bình tĩnh trước tình huống bị quân của Bê đánh lén. Tất nhiên trong lòng tôi nghĩ gì thì ông ta cũng đã rõ.

Đường Lê Chân nói cho đúng hơn là một con hẻm nhỏ, cách nơi này không quá 200 mét. Cho nên mặc dù bị đuổi gấp nhưng toàn bộ mấy mươi anh em của tôi đã nhanh chóng chạy hết vào nơi này. Con hẻm rộng chỉ vừa đủ một chiếc Flat, một dòng xe hơi bốn chỗ đời cũ kiểu Pháp, chạy vào, hoặc chỉ đủ cho hai chiếc gắn máy đi song song.

Bê sau khi dẫn đàn em quẹo vào con ngõ nhỏ đã lập tức tái mặt, rõ ràng gã cũng dư biết mình đã bị cho vào tròng. Nơi chật hẹp như vậy thì lợi thế hơn người của gã ngay lập tức bị bẽ gãy. Miệng còn chưa kịp thốt lên tiếng rút lui thì từ hai bên vách tường, tiếng hò hét vang trời dậy đất, cùng lúc là hàng chục cây batoong lấp loáng dưới ánh đèn neon vàng khè vung lên đập xuống. Quân của tên Bê bị bất ngờ, chỉ còn biết gồng người đón đỡ đồng thời cắn răng chịu đòn mà rút lui khỏi chỗ này. Chỉ trong tích tắc, hơn mười tên đàn em khác của Bê đã ngã sấp mặt xuống nền đất, những tên còn lại kẻ chen người lấn, tranh nhau chạy thoát khỏi nơi này.

Vất vả một hồi lâu thì cả đám Bê và đàn em mới chạy được ra khỏi con hẽm Lê Chân, trong bụng chửi rủa không ngớt cái tên Hai Hùng, nhưng không ai dám dừng chân lại chút nào bởi quân của tôi đã theo sát phía sau. Khoảng cách chỉ hơn chục bước chân nữa là có thể tiếp cận toán đàn em đi sau cùng của Bê rồi.

Lúc này đột nhiên tên Bê hét lớn:

“Anh em, mau quay lại đập cho con chó con Hai Hùng kia một trận, hôm nay có chuyện gì, bố đây sẽ chịu hết.”

Tiếng thét quả là được phát ra từ một tay có sẵn võ nghệ trong người, không ngờ lại được truyền đi xa như vậy. Không những toàn bộ quân số của Bê nghe được hết thảy, thậm chí bên tôi cũng nghe không sót chữ nào. Nếu là trong đánh trận, sự hào hùng này có thể tạo sĩ khí cho quân ta thì đối với tôi lại chỉ mang phản ứng ngược lại mà thôi. Nghe được như vậy, tôi nhếch mép cười một cái, tay phải giơ lên nắm chắt thành nắm đấm, mấy anh em khác phía sau lập tức dừng lại, đồng thời tôi nói:

“Tuyên, mày lo cánh trái. Hải, dẫn anh em qua cánh phải. Hai đứa tách ra, đợi hiệu lệnh của tao.”

Hai thằng Tuyên và Hải nghe vậy liền gật đầu, tỏ ra đã hiểu.

Mọi việc xảy ra chỉ trong một cái tích tắc, quân của Bê sau khi quay đầu đã ngay lập tức hùng hổ một lần nữa lao thẳng về phía chúng tôi, hình như bọn này đã quên cái khiếp sợ khi bị ăn đòn mới vừa rồi. Nhác thấy quân của tôi tự nhiên chia làm 2 cánh, chỉ để lại một nhúm hơn chục người ở đối diện thì bọn chúng càng hung hăng hơn. Thấy quân số đã hoàn toàn áp đảo, cho cả bọn không ngại ngần gì càng gia tăng tốc độ dưới chân lên.

Khoảng cách hơn mười bước chân bị Bê rút ngắn nhanh chóng, đứng yên một chỗ, tôi đã có thể thấy rõ đôi con ngươi đang long lên sòng sọc của Bê.

tên Bê rõ ràng cũng đọc được vẻ tự tin trong mắt của tôi, gã hơi chững lại một chút nhưng rất nhanh sau đó liền nghiến răng quát lớn đốc thúc đám đàn em tiến nhanh hơn.

Chỉ chờ có vậy, tôi liền hét lên:

“Hải, Tuyên đập chết mẹ tụi nó đi.”

Lúc này hai cánh chia ra của thằng Hải và Tuyên cùng lúc đổ sập vào toán quân của Bê. Tôi và An dắt theo mười mấy anh em khác lao thẳng vào đám Bê trực diện.

Trong thâm tâm, mấy thằng trời đánh dưới trướng gã Bê đều nghĩ rằng chỉ cần đông hơn tức là chiến thắng, dẫu có đánh dở một chút nhưng lấy thịt đè người là chuyện rõ ràng phải thắng. Nhưng bọn nó làm sao biết được, đông cũng là cái tội. Bởi một khi dồn thành một cục thì chỉ có vỏn vẹn vài mươi thằng phía ngoài cùng là có thể đánh nhau được thôi, phần còn lại thì không phải chen lấn thì cũng là bị che mắt, vướng tay vướng chân, làm sao mà đánh đấm gì được nữa.

Trong khi quân của tôi đánh đấm nhỉnh hơn bọn nó một chút, lại dàn ra chia đều đánh tới tấp, thì chỉ sau vài ba lượt giáp sát qua đi Bê đã ngộ ra lẽ này, nhưng đã muộn rồi, hơn một nửa quân của gã Bê đã bị đánh cho nằm bẹp dưới đường, nửa còn lại mặt trắng như tờ giấy lớ ngớ cầm batoong trong tay không biết phải làm như thế nào. Đại ca Bê của tụi nó cũng đã bị tôi đánh trúng chân trái, vai phải trúng một gậy batoong khá mạnh, hiện đang nằm dài dưới đường, bị tôi dùng chân đạp lên, Tư thọt sớm đã bị An đánh cho bất tỉnh.

“Bây giờ thì Bê mày đã biết ai là đại ca chưa? Con mẹ mày chơi bẩn à?”

Tôi vung cây batoong lên định đánh cho bẹp đầu gã ra thì bỗng vang tiếng hò hét từ phía sau, dựa vào tiếng hò hét vang dội này thì rõ ràng là không ít người.

“Là quân của thằng Tuyên ở Quận Nhứt, nó đã bắt tay với Bê rồi.”

Là tiếng của thằng Hải vang lên, vừa chạy tới vừa hộc tốc nói đứt quãng.

“Khà khà. Hùng, tao đã bắt tay với thằng Tuyên ở Quận Nhứt rồi, từ nay thì Quận 3 sẽ do hai tụi tao quản lý, thằng con nít thò lò như mày mà dám ngồi chung chiếu với tụi tao hay sao?”

Bê tuy đang ở thế yếu nhưng vẫn gằng giọng nói cứng.

“Sao? Còn không chạy đi, để lát nữa thằng Tuyên tới thì ngày mai xác mày sẽ nằm trong Chợ Rẫy luôn đấy?”

Vừa nói gã vừa cưới đểu cáng.

“Mẹ mày, cả hai thằng mày thích chơi đểu thì hôm nay tao chơi tới bến luôn.”

Trong cơn tức giận tôi rút từ trong túi áo ra khẩu Beretta 92 bắn nát đầu gối của tên Bê rồi hét lên:

“Anh em, rút thôi.”

“Mả cha nó, phía trước cũng có quân của thằng Tuyên già. Chúng ta bị bao vây rồi.”

Là tiếng của thằng Tuyên phía trước vọng lại.

“Con mẹ mày, tất cả đều là lũ chó má.”

Tôi tức giận đá mạnh vào hàm dưới của Bê, gã đang ôm đầu gối bê bết máu tru tréo, bị dính đòn lập tức ngã vật ra phía sau ngất lịm đi.

“Nhanh tập hợp anh em lại, đánh thẳng vào một hướng, phá được một chỗ là có thể chạy thoát được.”

Tôi gào lên với mấy thằng An, Hải, kêu bọn nó tập hợp người dưới tay để chạy trốn. Tình huống lúc này nguy cấp đến ngẹt thở, mà quả thật là tôi không nhớ trong tình cảnh ấy tôi có đang tiếp tục thở hay không nữa, chỉ biết có cuống cuồng lao đi và hô hào mọi người xung quanh.

“Coi như xong vụ này, tao đã nắm được Quận 2 và Quận 3. Hai thằng kia, một thì quá ngu, một lại quá nông nổi, ta đây cần đếch gì phải động tay chân cho mệt.”

Từ một góc nào đó của khách sạn, đang nhìn thẳng xuống phía dưới, trùm Tuyên già, đại ca Quận Nhứt đang nhâm nhi ly rượu nho vừa nhếch mép cười vô cùng thâm hiểm.

Chuẩn bị và mai phục

Đứng bên cạnh từng chồng phế liệu cao ngất ngưỡng, cảm giác mất tự nhiên bỗng dưng trào ra, cứ tưởng tượng cảnh hàng trăm kí lô sắt vụn, đồ đạc hỏng cùng rác thải ào ào đổ sập lên người thì đã thấy ớn lạnh sống lưng rồi.

Song hình như lũ trẻ con ở đây không mảy may lo sợ về điều đó. Bọn nhóc vẫn cứ hồn nhiên nô đùa vô tư lự bên cạnh từng núi phế liệu khổng lồ này, thậm chí có đứa còn chui tọt vào trong đó để ẩn núp khỏi hai con mắt của một đứa trẻ con khác trong trò chơi trốn tìm. Xem ra sự có mặt của tôi giờ này cùng một chiếc Cub cà tàn hình như chẳng phải sự kiện gì to lớn đến mức làm lũ trẻ con ấy phải bận tâm tò mò dò xét. Nhưng càng vậy lại làm cho tôi thêm phần vững dạ, không cần phải luôn tỏ ra đề phòng, lo lắng vì bị chú ý.

Năm giờ rưỡi chiều, tuy những ráng mây đỏ ối vẫn đang bồng bềnh trôi báo hiệu ngày sắp tàn, tuy thế mặt trời của những ngày tháng 6 mùa hè oi ả này ở cái đất Sài Gòn hình như chẳng chịu hạ chút xíu nhiệt độ nào, đã vậy vẫn ngoan cố lưu trữ từng hồi cái nóng hầm hập làm bốc lên từng trận hơi đất khô nóng. Mặt trời mùa này chẳng thèm đi ngủ sớm, cho nên sự vật chung quanh vẫn đủ sáng để phân biệt hết thảy. Sau khi ngoặt qua một núi phế liệu to ngất ngưỡng nằm ngoài rìa của khu đất, đứng ở sát bức tường đổ bị bọn choai choai dùng mấy bình sơn màu tô vẽ nguệch ngoặc, tôi đã phát hiện ra gã. Là một gã đàn ông vóc người dong dỏng cao, nước da ngâm, môi mỏng, mũi cao gá trên đó là cặp kính mắt ếch đang rất thịnh hành lúc bấy giờ, làm cho người ta nhìn vào có cảm giác vừa đẹp mã lại rất buồn cười. Tuy nhiên, với áo sơ mi kẻ sọc trắng xanh đóng thùng trong chiếc quần tây ống loe này thì phải thừa nhận rằng nếu có bất kỳ cô gái nào đi ngang qua đây ắt hẳn sẽ thốt lên trầm trồ về sự thời thượng của gã.

“Mày trễ 3 phút rưỡi.”

Sau khi liếc mắt vào chiếc đồng hồ mạ vàng đang đeo ở cổ tay trái, gã đàn ông búng điếu thuốc đánh cái vèo tạo thành một vòng cung khói trắng vào một vũng nước gần đó rồi nhếch mép nói, giọng gã nghe có vẻ khàn khàn nhưng vẫn có thể nhận ra là giọng miền Tây.

“Gặp phải thằng nhóc ranh ở trên đường, nên tới trễ một tí. Sao, hàng của em đã đủ rồi phải không đại ca?”

Tôi nói bâng quơ về việc tới trễ, sau khi dò xét đối phương một lượt mới mở miệng hỏi.

Gã đàn ông thò tay vào túi áo, sau khi thận trọng nhìn ngó chung quanh một lúc lâu mới đem ra một gói giấy báo. Vật này không to lắm, vừa gọn một bàn tay nắm, chẳng biết bên trong đang bọc gì nhưng xét theo vẻ cẩn thận của người này thì hẳn phải là một thứ rất có giá trị.

“Tuy nó hơi cũ tí nhưng vẫn còn tốt chán. Tiền anh cho mày khất đến sáng mai. Đến đây coi như xong, mày tự lo việc của mày. Anh em chỉ giúp được đến đây thôi. Mà cẩn thận đấy, nhóc này chẳng phải loại xoàng, tốc độ cao hơn hẳn mấy loại hoa cải của bọn Việt Cộng nhiều, có gì xảy ra thì mày tự chịu đấy.”

Gã đàn ông từ đầu đến cuối không hề lộ ra khuôn mặt thật. Sau khi ném gói giấy báo vào tay tôi thì nhắc nhở thêm vài câu.

“Hề hề, cái này em tự biết mà. Tối nay ông anh không tới sàn Mosquito nữa sao? Làm gì mà ăn mặc sang trọng thế? Vừa cưa em nào nữa rồi hả?”

Gói hàng được bọc trong tờ giấy báo cầm vào rất trầm và chắc tay. Sau khi đè nén nỗi hưng phấn trong lòng xuống, tôi mới nhanh chóng nhét nó vào túi áo và hỏi mấy câu xã giao.

“Gái gú cái mẹ gì. Anh mày đang chuẩn bị theo thằng Hải qua Campuchia, nghe nó nói thì hội của nó đã có vài trạm bên đó rồi, anh qua giúp nó một tay. Với lại vụ này mà có dính đến anh thì bọn cớm cũng bó tay chứ làm được mẹ gì anh nữa? Thôi anh về lo cho thằng cu, mẹ nó nói tối nay đi nhảy đầm ở Olympic, bắt anh phải cho bú thay đấy, mày xem trên đời có con mụ nào như vậy không? Thật là…”

Sau khi chờ gã đàn ông ấy đi khuất hẳn, tôi mới leo lên chiếc Cub cà tàng đi ra khỏi khu đất phế liệu, cuộc đối thoại chỉ vỏn vẹn có chưa đầy 5 phút, đảm bảo mấy thằng cớm và bọn đàn em của thằng chó kia không thể nào biết được. Kế hoạch đã lên sẵn rồi, từ nay tới tối sẽ vui đây.

Nói đến chiếc Cub này, phải kể tới…

“Thôi. Ông biết nhà ngươi chuẩn bị kể lại cái đoạn bị thằng Tư thọt xỉ nhục và cái thời oanh liệt khi ông già con sống nữa chứ gì. Thật không sao hiểu nổi, con người cứ thích gặm nhắm mấy thứ xưa lắc xưa lơ để làm cái gì không biết. Mà xem sắc trời thế này, thể nào tối nay cũng mưa to, nhà ngươi có chắc sẽ xử lý xong xuôi chứ?”

Im lặng từ nãy đến giờ dễ có đến hơn 20 phút, cứ tưởng ông não đã chán cái việc huyên thuyên mà bắt đầu tự suy ngẫm về bản thân và cuộc đời thì bỗng dưng lại vang lên tiếng nói của lão, làm tôi giật nảy mình một cái, tay lái chệch đi làm chiếc xe rơi vào một cái ổ gà to tướng, sốc không sao chịu nổi, nửa tô hủ tíu vừa ăn lúc chiều trào ngược lên tới cổ họng, vừa chua vừa nóng.

“Hừ thằng Tư thọt cũng là quá khứ rồi, sau khi tôi cho nó và bọn đàn em trời đánh một trận, gánh được con siêu xe này về lại lần nữa thì coi như Tư thọt chẳng còn là cái thá gì nữa. May mà hôm ấy tôi chỉ cho nó què thêm một tay, nếu là thằng khác thì nó đã đi xe lăn và húp cháo cả đời rồi. Mẹ cha cái thằng lươn lẹo, nếu mà Tư thọt biết vụ nó và đại ca Bê sập hầm là do tôi làm thì không biết sẽ có thái độ gì đây nữa?”

“Ừ, kế hoạch đó của nhà ngươi lúc ấy rất được, coi như không ai nghi ngờ gì. Thế lúc nãy thằng San đến đưa hàng, nhà ngươi đã kiểm tra chưa? Coi như trong mấy anh em quen biết thì nó là thằng chơi được nhất, nhưng mà cái nào nó ra cái đó, cái mạng của mình vẫn là quan trọng nhất, chớ mà chủ quan rồi sập hầm thì nhục mặt lắm.”

Việc là thế này, chẳng là ở quận 2 có tay đại ca mới nổi, nghe đâu là người Bình Định, tuy chỉ có vỏn vẹn chưa tới chục người nhưng đều có võ trong người và vô cùng liều mạng. Đám này cầm đầu là một tay cao to tên Bê, sau khi dẹp sạch băng đảng của Sến ngọng tuần trước đã nhanh chóng thiết lập lại trật tự cho quận 2, đồng thời tạo mối quan hệ với các băng đảng lân cận khác.

Trong một lần giao dịch, Tư thọt bằng vào cái miệng trơn như con cá trê đã lấy lòng được đại ca Tuyên ở quận Nhứt để tiến hành đàm phán và trao hàng cho tay Bê này. Nhưng dựa vào chút quen biết lúc trước của ông già để lại, tôi rất nhanh đã hỏi được địa chỉ giao dịch của bọn nó, một mặt kêu mấy thằng em đi báo cảnh sát, mặt khác tới sớm hơn một chút so với bọn kia để chuẩn bị. Đầu tiên tôi mua một can dầu lửa, đào chung quanh khu nhà hoang khoảng một tấc sau đó lót bên trên mấy cái bong bóng rồi đổ dầu lên, tại bốn góc nhà cũng được đào và bỏ vào mấy túi dầu lửa khác, sợi dây mồi là một dây điện dài chục mét cũng được tôi dùng đất cát và đá sỏi lấp lên. Đâu ra đấy thì tôi chuồn lẹ, chọn một cái khách sạn cao gần đó, xách theo cái xô nước và cây chổi, tôi đội mũ cúi gầm đầu đi lên bậc thang của khách sạn, dẫu có ai đi qua liếc mắt một cái cũng sẽ nghĩ rằng tôi chỉ là một tên lao công ở đây thôi. Sau khi đã lên được sân thượng, thấy tình hình bên dưới rõ ràng thì vừa lòng lắm. Cái khách sạn này chỉ có ba lầu, thời gian tôi chạy xuống châm lửa vẫn dư sức trước khi bọn kia giao dịch xong.

Kế hoạch diễn ra rất hoàn hảo, sau khi xác định toàn bộ người của hai phe đã vào hết trong căn nhà hoang, tôi nhanh chân chạy xuống lầu, móc từ túi đồ nghề ra bình Ắc qui loại nhỏ, chập hai đầu dây điện với hai cực của Ắc quy, chỉ sau một cái chớp mắt, từ phía căn nhà đã vang lên tiếng nổ lớn, kèm theo là tiếng la hét thất thanh. nghe được tín hiệu này, hơn hai mươi mấy tay cảnh sát đang phục sẵn gần đó nhanh chóng tiếp cận hiện trường. Bởi lẽ đám cháy quá lớn cho nên cả bọn bên trong đều không chạy thoát được tên nào, sau khi cảnh sát tiếp cận vòng vây, thì đám cháy đã gần cạn dầu, lúc này Tư thọt và Bê mới liều mạng cùng đám đàn em lao ra, tất nhiên đa số đều bị tóm gọn riêng Tư thọt và Bê nhờ vào sự lăn xả của mấy tên đàn em bên cạnh mà thoát được. Nhưng toàn bộ tiền và hàng đều bị tịch thu sạch sẽ. Trong lúc tức giận, Tư thọt bị tay đại ca dần cho một trận, tuy chưa đến mức gần chết nhưng cũng bó bột trong nhà thương hơn hai tháng. Bê thì bị phỏng một mảng lớn ở bắp đùi phải, sau vụ này cũng đã im hơi lặng tiếng, không phát sinh thêm động tĩnh gì khác. Tuy thế cả hai phe đều nghi ngờ rằng mình bị hãm hại, sau khi quay ra đổ tội và chửi bới lẫn nhau thiếu điều xém chém lộn nhưng rồi cũng đã bình tĩnh lại, bắt đầu xuy xét ngọn nguồn. Bê cho rằng do mình vừa mới có chút tiếng tăm đã muốn chơi trội nên chọc giận đến các đại ca cộm cán khác, thành ra bị bọn này âm thầm hãm hại, thù này Bê nhớ rất kỹ, định bụng sẽ điều tra và trả cho bằng hết.

Tư thọt bị đuổi về lại nơi xưa, chính là căn nhà ông già tôi ngày xưa đã ở, nhưng giờ đây đã bị bán gần hết, chỉ còn vỏn vẹn lại căn phòng bé xíu chưa được 10 mét vuông. Đàn em của nó cũng bị bắt gần hết, tôi biết vậy cho nên liền trong đêm dắt theo hai thằng em khác tới ngay chỗ đó, sau khi dùng batoong sắt đập nát cánh cửa gỗ thì lao vào, tay đấm chân đá loạn xạ, mấy thằng đàn em đang ngủ trong nhà bị bất ngờ không trở tay kịp. Sau đó tôi mới phấn khởi dắt chiếc siêu xe yêu quý này đi khỏi, Tư thọt tay băng bột chỉ còn biết ngậm ngùi nhìn theo, trong lòng tức giận ra sao, không cần nói cũng biết được.

Sự đời cũng thật quái lắm. Khi mất thì tiếc nuối không nguôi, nhưng khi đạt được rồi thì rất nhanh đã buồn chán. Không quá ba ngày thì mọi hưng phấn trong lòng tôi cũng đã tiêu tan sạch sẽ. Lúc này mới nhận ra mình chẳng còn mục đích gì để làm nữa. Tư thọt có lẽ là một chướng ngại, nhưng với tôi hình như nó quá dễ, cho nên chẳng mang lại bao nhiêu hứng thú và duy trì nó lâu dài được.

Được ông não gợi cho mấy cái ý tưởng đen tối, sau một phen bàn bạc thật lâu thì cả hai đi đến quyết định, phải cho ngoài kia biết, Hùng này là thằng nào, tất nhiên là sẽ đập bẹp hết tất cả những chướng ngại phía trước.

Suy tính như thế cho nên bằng vào mối quan hệ khi trước của ông già, tôi đã bắt liên lạc được với tay San, đây là một dân chơi thứ thiệt hiếm có của đất Sài Gòn này. Ông bà già của gã làm gì thì không rõ, nhưng ông già vợ của gã thì lại là Thống đốc Ngân hàng Sài Gòn, mẹ vợ còn ghê gớm hơn, chính là con gái rượu của một tay trùm buôn lậu vũ khí xuyên các nước Đông Nam Á. Cho nên trong nhà không thiếu mấy thứ đồ chơi loại xịn mà có đến hơn chín trên mười dân cộm cán đầu đỏ đít đen của Sài Gòn Chợ Lớn thèm khát.

San ngày trước là đàn em cũ của ông già tôi, học được nhiều bản lĩnh giắt hông, lại có cái mã đẹp trai lãng tử, khi kết hợp với nhau lảm cho không ít cô nàng điêu đứng. Trước là con gái của Chánh phó Tổng ngoại giao của Pháp đặt tại Sài Gòn, sau lại là cô nàng Jolie nóng bỏng của sàn Olympic, anh ta yêu rất nhiều cô nhưng lại bất ngờ cưới con gái của ông Thống đốc Ngân hàng Sài Gòn này. Tất nhiên tên tuổi của San thì không ít tay anh chị đều biết đến, cho nên dẫu có đi đâu San cũng được chào đón rất nồng hậu, lại thêm cái tính rộng rãi dễ gần thành ra trong giới giang hồ thời ấy San bạn nhiều thù ít, tiền bạc coi như rủng rỉnh. Gã giúp tôi cũng coi như trả lại chút ơn nghĩa của ông già tôi ngày trước, cho nên khi tôi nhờ gã kiếm cho một con Beretta 92 thì chỉ mất hơn hai ngày tôi đã được gã trao tận tay. Bé này thì bên hông lính Mỹ ngày trước đeo rất phổ biến, sau này quân Mỹ rút đi hết thì được bọn hải tặc Mã Lai buôn bán ngầm với giá cắt cổ. Bằng vào mối quan hệ cộm cán trong giới hải tặc Mã Lai bên phía vợ, nên việc cầm đi một cây 92 rỉ sét như thế này cũng chẳng có ai ý kiến gì nhiều.

Về tới căn phòng trọ tồi tàn và thấp lè tè, sau khi đóng chặt cửa và chốt khóa đến hai lớp, tôi mới cẩn thận lột hết mớ giấy báo bọc bên ngoài ra. Bên trong là một khẩu súng ngắn không lớn lắm, phần tay cầm đã bị mòn nhẵn thín, chắc hẳn đã được người ta sử dụng nhiều. Bên trong còn gói kèm một bao thuốc lá, khi mở ra thì thấy có tổng cộng 6 viên đạn còn mới nguyên. Vậy là đủ, bao nhiêu đây đủ để tôi thanh toán xong đám Bê rồi. Kiểm tra kỹ một lượt, thấy tuy súng đã cũ nhưng chốt an toàn vẫn hoạt động tốt, sau khi lên nòng và bắn thử không đạn thì vẫn trơn tru.

Đúng lúc này, ngoài cửa có tiếng gõ nhẹ, sau đó là một giọng nói thì thào truyền vào:

“Anh Hùng, đã chuẩn bị hết rồi, mấy anh em đang đợi ở bên dưới.”

Tuy chỉ nghe như tiếng gió thoảng nhưng tôi biết đó là thằng An, mọi sự chuẩn bị tôi đã dặn dò nó từ trước đâu ra đấy, cho nên vừa đúng giờ là tất cả anh em đều đã có mặt.

Lại nói, sau khi bị tống ra đường với hai bàn tay trắng, tự dưng tôi trở thành đứa lớn nhất trong đám trẻ con bụi đời ở Chợ Lớn. Tuy ngày trước ham chơi nhưng dù gì tôi cũng được rèn dũa trong nhà một ông trùm có tiếng của Sài Gòn khi trước, cho nên điều cần biết và cần tránh tôi đều thông thạo hơn lũ nhóc ở đây nhiều. Chỉ sau hai tháng, cái tên Hai Hùng đã được lũ bán báo, đánh giầy và móc túi truyền tai nhau đi khắp Chợ Lớn. Những đứa trẻ chưa tới 10 tuổi thì tôi cho bọn nó đi đánh giầy, lớn hơn tí nữa thì bán báo, còn thì tập trung ở nhà ga để móc túi. Tiền hàng ngày đều được gom lại và chia đều cho tất cả, tất nhiên những đứa không bán được báo hoặc không có khách đánh giầy cũng được tôi chia đều tiền ra cả, bọn nhóc vì vậy vô cùng kính nể vị đại ca mới này.

Nhưng cuộc đời nào dễ ăn không của người khác như thế. Trước tôi, tại cái ga Sài Gòn bé tẹo không đủ cho một băng cướp nhí hoạt động này, tất nhiên đã là địa bàn của người khác. Khi bọn tôi chen vào cũng đồng nghĩa băng nhóm kia sẽ thu nhập ít lại, vậy là xung đột tất nhiên phải xảy ra. Đó là tháng thứ hai từ sau khi tôi lên làm đại ca đám nhóc bụi đời ở đây, vào một buổi chiều nóng nực, hơn 20 thằng nhóc tuổi chỉ cỡ 14, 15 lao vào nhau đấm đá túi bụi, mọi hàng nóng đều đã bị tước đoạt hết để đảm bảo không có thương vong quá lớn xảy ra, tôi và một thằng khác lớn hơn tôi một tuổi sẽ là trận so tài cuối cùng. Vừa qua một chập lao vào nhau vung tay đá chân, bên phía tôi đã nhỉnh hơn hẳn, tất cả là nhờ mấy bài quyền đơn giản mà Hai rằn ngày trước đã giảng lại cho tôi. Nói là quyền cho oai chứ thật ra cũng chỉ là huơ tay múa chân loạn xạ, nhưng cái loạn này đều có tính toán cả, thành thử mấy đứa nhóc đàn em của tôi đều ăn đòn ít hơn đội bạn một nửa. Người ta nói, ăn đấm và tung đấm là hai chuyện tuy giống nhau nhưng kết quả lại trái ngược nhau, chỉ xét riêng phần thể lực tiêu hao khi tung đấm và khi chịu đấm đã làm cho người ta phải chóng mặt rồi. Cho nên rất nhanh đội bạn đã rơi vào thế yếu, đành chấp nhận buông bỏ phần địa bàn để kiếm nơi khác mưu sinh.

Đại ca của đám nhóc bụi đời kia chính là thằng An này. Khi ấy nó định sẽ kéo mấy đứa em của nó ra ngoài khu Gia Định để kiếm ăn, nhưng lúc này tôi lại đưa ra ý kiến thu phục nó. Nghe vậy nò mừng ra mặt, tuy lớn hơn tôi một tuổi nhưng lại sẵn sàng gọi tôi là anh Hai, đồng thời nói rằng rất khâm phục tôi đã chỉ dạy cho đám đàn em dưới tay đánh đấm thiện nghệ như vậy. Trải qua hơn năm năm ngụp lặn trong đám giang hồ nhí này, đến năm thứ sáu tôi đã đủ cơ sở để quật ngược Tư thọt, tất nhiên vẫn phải dựa vào một ít mánh khóe, nhưng có quan trọng gì, chỉ cần chiến thắng thì thằng Hùng này cần đếch gì sĩ diện.

Việc xảy ra với Tư thọt là một kế hoạch tuy đơn giản nhưng hoàn mỹ, mấy đứa đàn em dưới tay tôi đều phục sát đất, bọn nó cũng không dám tin tôi có thể vuốt râu của Bê đại ca quận 2 mà chính Bê cũng không biết. Nhưng hôm nay, tôi đã chính thức khiêu chiến với Bê quận 2, đây chắc chắn sẽ là bước ngoặc lớn cho cuộc đời tôi, quận 2, nơi ông già tôi gây dựng sự nghiệp, thì bây giờ thằng Hùng này sẽ chiếm lại cho bằng hết, nếu được thì ông đây cũng muốn nắm trọn hết cái Sài Gòn nhỏ xíu này trong tay luôn. Hai Hùng năm nay đã 22, tất nhiên đã đủ cựa cứng để so vai với Bê già kia rồi.

Địa điểm hẹn là sàn Cartherine trên đường Nguyễn Huệ, chỗ này coi như là trung lập nhất để đàm phán. Sau khi lên đạn kỹ lưỡng và cài chốt an toàn thì tôi còn mang theo một con dao bấm loại nhỏ, giắt vào bắp chân rồi kéo ống quần xuống che đi.

Vừa ra khỏi phòng, còn chưa kịp đóng cửa lại thì ngoài trời đã xẹt qua từng chùm tia chớp sáng lóa, sau đó nổ ì ùng không dứt. Rồi mưa to như trút nước bắt đầu đổ ào ào như bị đít nồi thủng đáy.

Ngước mặt lên nhìn trời, hai hàng lông mày nhíu lại, đang định nói gì đó thì bỗng ông não lại lên tiếng:

“Ông đây đã nói thì sao mà sai được, nếu ông nói có mưa thì sẽ ra mưa, há há.”

Ông não đột nhiên cười lên một cách khoái trá, bởi có thằng An đứng bên cạnh nên trên mặt tôi vẫn giữ nét bình thản như không. Nhưng trong lòng thì không ngừng chửi rủa cái lão này đúng là già mồm, có cái sự mưa thôi mà lão làm như thầy bói, hễ bói trúng là đi khoe khắp làng xóm không bằng ấy.

Bước ra khỏi cánh cổng, theo hướng dẫn của thằng An, rất nhanh tôi đã tập hợp đầy đủ mấy mươi anh em dưới tay. Sau khi leo lên xe thì tất cả rồ ga chạy như ma đuổi.

Trời càng lúc càng mưa to hơn, đường Sài Gòn những năm này còn chưa có đông dúc, với lại một đám giang hồ bặm trợn đi trên đường thế này thì dẫu có là không mưa, nắng ráo thì người dân cũng hoảng hồn mà tránh ra thật nhanh để khỏi bị liên lụy.\\

“Bằng vào những gì nhà ngươi đã chỉ dạy cho đám nhóc, hẳn sẽ đè bẹp được con Bê già kia thôi. Mà nhìn sắc trời u ám mờ mịt thế kia, có lẽ sẽ mưa lâu đây.”

“Ừ, mà chẳng sao, mưa như vậy sẽ làm cho anh em hăng hơn, chứ cứ nóng hầm hập như lúc chiều thì có muốn đánh nhau cũng chán chết, nếu không thì cũng mệt chết.”

Tôi là người chạy xe dẫn đầu, trong cái tiết trời nóng nực thế này, tắm mưa cũng là một loại hưởng thụ. Không những tôi mà nhìn qua nét mặt mấy anh em khác, ai nấy đều tỏ vẻ vô cùng hưng phấn.

“Mà này, xong vụ này ta lại đi Nha Trang chơi nữa đi. Mấy bé ở đó ai nấy đều cao ráo trẻ trung, lại vui vẻ nhiệt tình, thật là không chê vào đâu được. Biển xanh, cát trắng, nước mát cát mịn, có người đẹp bơi cùng thì thật là quá xá đã. Nếu như có điều kiện, sau này ông nhất định sẽ ra Nha Trang sống hết đời, đấy mới là hưởng thụ chứ.”

“Ừ ừ.”

“Biển xanh rì rào, gió mát vi vu. Nằm dài trên bãi cát được một cô em chân thon dài cho uống nước dừa, nhà ngươi nói xem có phải là nhất rồi hay không? Sau đó chúng ta cùng ra đảo, một là câu cá, hai thì lặn biển bắt ghẹ, bắt tôm hùm, ôi cái mùi tôm hùm nướng nó hấp dẫn quá trời đất luôn, ăn vào thì ngon nhứt hết hai cái quai hàm. Rồi lại lên rừng, lên suối này, ôi cái Nha Trang sao mà đã, ông đây thật chán cái đất Sài Gòn mưa nắng thất thường này lắm rồi.”

“Rồi rồi, mẹ cha ông. Sao cứ lải nhải mãi thế? Xong vụ này tôi sẽ đi Nha Trang, được chưa?”

“Nhím xào xả ớt nè, nai rừng nướng nè, rồi ghẹ hấp, sò huyết, bao nhiêu là món ngon cứ không ngừng hiện ra thế này, làm sao ông quên được Nha Trang đây? Lên rừng thì có bao nhiêu là suối thác, cá ở đấy cũng ngon vô cùng, ở một nơi gió mát vi vu, nằm trên một tảng đá có bóng cây che đầu mà ngủ thì đã đời biết bao nhiêu? Ấy thế mà nhà ngươi lại cứ thích chui vô cái xó xỉnh chẳng khác nào ổ chuột để làm cái quái gì? Mà này, coi chừng đấy.”

Đang huyên thuyên không dứt làm cho tôi không ít lần mất tập trung thì bỗng nhiên ông ta la toáng lên, lần này không hiểu sao miệng tôi lại làm theo mệnh lệnh của lão, cũng la toáng lên như thế.

Tất nhiên những người đi sau đã nghe được lời cảnh báo của tôi, nhưng có lẽ đã muộn.

Chỉ thấy có một chiếc xe gắn máy từ trong một con hẻm nhỏ lao vút ra, tốc độ vô cùng nhanh đâm sầm vào chiếc Cub tôi đang lái, rất nhanh và gọn gàng tôi đã kịp buông tay lái và nhảy lên phái trên trong một tích tắc. Cả hai chiếc xe đập mạnh vào nhau rồi xoay mòng mòng mấy vòng mới chịu dừng lại, ngã sóng xoài.

Sau khi tiếp đất, ngẩng đầu nhìn lên đã thấy từ trong con ngõ nhỏ đi ra hơn chục tên cao to lực lưỡng, trong tay lăm lăm vũ khí, bọn này tòn bộ mặc áo ba lỗ, đầu chít khăn đen. những thằng khác thì tôi không biết, nhưng có hai người vừa nhìn đã lập tức nhận ra ngay.

“Tư thọt. Địt mẹ nhà mày vẫn còn thù dai như vậy à? A, Bê, không ngờ mày lại giở trò đánh lén này, để tao xem qua ngày mai tên của mày còn được nhắc tới nữa không?”

“Há há. Hùng mày chỉ là một thằng con nít ranh, mà dám tranh địa bàn với tao hay sao? Tư thọt nó nói sẽ theo tao, nó không cần gì hết, chỉ cần đập chết được đám tụi mày để rửa nhục thôi.”

Bê há miệng cười to, mặc dù biết tay này giỏi đánh đấm nhưng không ngờ nó lại chơi trò đánh lén giữa đường như vậy. Có đến tám chín phần là do thằng Tư thọt kia bày ra.

Lúc này đây, toàn bộ anh em của tôi đã xuống xe, trong tay đã rút ra vũ khí nắm thật chặt. Không khí tuy đang trong cơn mưa nhưng không biết vì sao lại bốc lên một mùi chết chóc nặng nề khó tả. Xem quân số thì bên tôi ở thế yếu hơn hẳn, bọn này đã chuẩn bị để tóm gọn tụi tôi từ trước, muốn một mẻ bắt hết mới vừa lòng đây.

“Hùng. Chú coi như cũng là chỗ anh em với ông già mày, nể mặt chú, hàng anh Bê đi, sau này quận 3 vẫn sẽ là của mày, anh Bê đã đồng ý như vậy rồi.”

Tư thọt mở miệng khuyên nhủ, nhưng nét mặt nó cực kỳ gian xảo, đôi con ngươi nham hiểm nhìn chòng chọc vào người tôi.

Khóe mắt của tôi hơi giật giật, biết bây giờ có nói nhiều cũng vô ích. Lúc này mới nghiến răng nói lớn:

“Bê, từ hôm nay trở đi, quận 3 là của tao. nhưng quận 2 cũng sẽ là của tao. Anh em, đập chết thằng Bê trước.”

Nói rồi rút cây batoong sau lưng lao nhanh về phía hai tên Tư thọt và Bê.

Huyên thuyên

Ngẫm lại, hơn ba năm học xong ra làm. Mấy cái mớ sách vở nhồi nhét vào đầu áp dụng chưa tới 10%.

Dẫu thế, những trang bị này dù có dư thừa nhưng người ta lại không thể không mang theo.

Hơn nữa, mấy ai biết được tương lai mình sẽ đi đến đâu mà dựa vào đó lường trước cho chu toàn.

Cho nên, hễ là tương lai, người ta đều muốn dư thừa ra một chút. That’s all.

Mọi sự trong cuộc sống này, có người tất bật cho đời mình. Người vẫn đang loay hoay tìm mục đích sống. Kẻ lại truy cầu những thứ hão huyền dẫu đã mơ hồ thấy không còn lối ra nơi cuối đường.

Cớ tại sao chúng ta phải hành động như vậy?

Ai? Là ai xui khiến chúng ta làm như thế?

Nghe có vẻ nực cười nhưng người ấy chẳng phải chính chúng ta hay sao?

Chúng ta thường dùng một loại đại từ nhân xưng thuộc ngôi thứ 3 số ít để tự chỉ về mình: Tôi. Chính tôi. Là tôi. Trong suy nghĩ này, ai còn quan trọng hơn tôi, ngoài kia dẫu có khắc nghiệt bao nhiêu chăng nữa, vẫn là tôi trong thể nội này.

Nếu như “tôi” đó đang điều khiển mọi hành động này, vậy tôi kia thực ra là ai?

Nhìn cho hết ngọn ngành, không ít người sẽ phì cười vì câu trả lời quá sức đơn giản đi: Tôi kia không phải là bộ não của chúng ta thì còn là ai nữa?

“Phải rồi. Ông đây mới là boss thực sự của cơ thể này. Nếu nhà ngươi có tồn tại và biết tự hỏi. Thì đó cũng chỉ là một phần nhỏ, bên trong ông đây mà thôi. Nói túm lại, nhà ngươi cũng là của ông tất.”

Ông não đã nói như thế đấy.

“Màu sắc này. Mùi vị này. Cảm quan này. Đều là do ông đây nói cho nhà ngươi biết cả đấy. Nếu ông có nói muối ngọt như mật ong thì nhà ngươi có biết được không? Nếu ông nói màu đỏ nó đỏ như màu xanh thì nhà ngươi dựa vào đâu để cãi lại đây? Ha ha ha. Ủa mà nhà ngươi là ai? Và việc quái gì ông đây cứ phải nói tất tần tật cho nhà ngươi biết nhỉ?”

Ông ta cười miệt thị và tuôn ra từng tràng lời lẽ châm biếm khi muốn thể hiện khả năng của mình trước tôi. Nhưng rồi ông chợt nhận ra, ông cũng không biết tôi là ai và tại sao cứ phải huyên thuyên mãi.

“Đúng rồi. Tại sao ông cứ lải nhải làm chi cho mệt vậy? Tôi cũng đâu có muốn nghe.”

Nghe hỏi vậy ông ta trầm ngâm một chút, rồi tự lẩm bẩm:

“Đúng quá. Ai khiến ông đây phải nói chứ? Nói thật hay nói láo thì cũng có được lợi cái mẹ gì đâu? Vậy ông đây cứ phải luôn mồm làm cái quái gì?”

“Gió nhẹ thổi vi vu, làm khô đi dôi môi vừa được thấm ướt bằng một ít nước bọt. Cảm giác mát mẻ sảng khoái và vô cùng tự do. Ngoài kia, dẫu có phóng tầm mắt ra xa tít tắp thì vẫn chỉ là một dải xanh thẳm miên man. Màu xanh dần pha trộn trời và biển, đến độ mây trắng có muốn lắp đầy cũng phải tốn bao phen cố gắng. Cái cảm giác vô vi này thật muốn làm người ta phấn khích và hét lên thật to, muốn tỏa ra hết cái nhiệt năng bản thân, tuy vậy vẫn giữ cho mình chút nhẹ nhàng và thoải mái, ấy mới là hưởng thụ chân chính.”

Là ông ta vẫn đang nói đấy.

ông nói ông là “tôi”. Nói là nói thế, nhưng tại sao tôi phải tin ông.

“Thế nhưng. Nếu ông là tôi. Thì tôi là ai? Ông đừng có mà nói rằng tôi là ông nhé. Rõ ràng hai ta đang tranh cãi với nhau, không có lý nào cả hai là của nhau được, nghe qua thật là bệnh hoạn.”

Lúc này, cả hai đều chợt nhận ra mình không biết bản thân là ai. Nếu như không xuất phát từ lòng tin về một phía, thì cả hai đều không thể làm làm rõ được mình là ai. Đặt trường hợp hai bên đang tranh cãi và hoài nghi lẫn nhau, thì cái thỏa thuận này không còn vững chắc nữa. Vậy là xong, tất cả lại lần nữa đen thẫm như trong đêm 30 tết.

“Được rồi. Hai ta không việc gì phải tiếp tục tranh cãi ai phải tin ai nữa. Bình tĩnh và suy xét cho kỹ càng một tí, tôi tin sẽ có đáp án thôi. Mấy cái thứ hay nổi nóng, chửi bới và bồng bột thì chỉ có bọn nít ranh nghiệp dư mới hay thể hiện mà thôi.”

Tôi dẫu sao cũng đọc qua không ít sách vở, giờ phút này bắt đầu đem ra chiêm nghiệm, lại được một phen lên mặt. Thấy ông ta cũng đang trầm ngâm không có ý kiến, tôi tiếp:

“Chúng ta bắt đầu lại nhé. Nếu như ông đã khẳng định ông chính là Tôi. Cũng không sao trên đời này dẫu không mấy người mang tên tôi, nhưng đó cũng chỉ là cái tên thôi. Nhưng nếu vậy, theo ông thì tôi là ai?”

“Nhà ngươi là ai. Việc gì phải hỏi ông đây. Ông đây cũng đâu có rỗi hơi mà đi tìm hiểu ba cái thứ chẳng liên quan gì đến mình.”

Ông não ngáp một cái, tỏ vẻ bất mãn nói.

“Nếu ông đã khẳng định ông là tôi, tức là, tôi cũng là ông. Mà tôi đã biết gì về ông đâu. Cái vô lý này nghe nó tréo ngeo vậy mà ông cũng cho là đúng được hay sao?”

Tôi gân cổ lên cãi lại.

“Nhìn kìa. Trên cây ổi kia đã có mấy quả xanh xanh vàng vàng. Mà dựa vào mùi hương tỏa ra thì bọn nó hẳn đã chín rồi. Bây giờ mà hái xuống, lấy tay áo lau sơ qua cho sạch bụi, rồi cắn một miếng hẳn là ngon ngọt biết mấy. Nếu có thêm chút muối ớt nữa thì tuyệt, mà không có cũng không sao.”

Tự nhiên ông ta lảng sang chuyện khác chả liên quan gì. Vẫn đóng vai người từng đọc qua nhiều sách vở, tôi kiên nhẫn ngồi nghe mà chưa vội phát tác.

“Nhưng mà cái giống ổi này cũng quái lắm. Trên thân, trên lá toàn lũ rầy trăng trắng, hễ chạm vào da là y như rằng sưng ngứa không sao chịu nổi. Mà nhìn bầu trời trong xanh thế kia, nếu được nhảy tùm xuống biển thì có phải là thích lắm hay không. Nước biển chắc chắn là rất trong, có khi còn thấy được tận đáy cát luôn ấy, được vẫy vùng trong đó thì tuyệt vời quá còn gì.”

Ông ta vẫn cứ thao thao không dứt, nếu có bình chọn ai là người huyên thuyên nhiều nhất thì chắc chắn ông này đã giật giải quán quân rồi.

Nhác thấy vẻ mất kiên nhẫn của tôi, ông ta liền im bặt. Nhưng rồi sau đó lại bồi thêm một câu:

“Nhìn cái gì? ông đây có nói nhiều như vậy cũng chỉ để chứng minh cho nhà ngươi thấy, mấy cái mớ cảm xúc bà lằng nhằng ấy mà, nếu ông đây không nói cho nhà ngươi biết thì liệu nhà người có biết được hay không? Cho nên ông đây không là tôi là còn là ai? Mà nhà ngươi cớ gì cứ phải xưng mình là tôi nhỉ? Cuộc đời sao lại vô lý như thế?”

“Bởi lẽ con người ta lúc nào cũng đòi công lý, cho nên mới sinh ra cái vô lý.”

Tôi cười nhạt, thủng thỉnh đáp lại.

“Bởi lẽ người ta chuộng cái đẹp, cho nên mới sinh ra cái xấu. Bởi lẽ người ta cầu cái thiện, cho nên mới sinh ra cái ác.”

Ông não nghe thế thì buột miệng nói tiếp.

“Ông hiểu được như vậy là đủ rồi. Cái tốt nhất chúng ta nên làm chính là, không nên làm gì cả. Tất cả mọi sầu não, bực dọc cũng chỉ là do lòng tham của chúng ta mà thôi.”

“Mà phía trước là đường một chiều rồi đấy. Có biển báo rõ ràng kia kìa, nhà ngươi khôn hồn thì quẹo phải nhanh nhanh đi.”

Ông ta lên tiếng nhắc nhở.

“Hừ, đừng tưởng ông có thể điều khiển được tôi, từ nay tự tôi sẽ làm lấy. Ông chỉ nên làm cố vấn danh dự thôi.”

Khi nghe lời nhắc nhở mang phần gượng ép của ông ta, tôi bỗng thấy khó chịu trong lòng. Tuy thế, tay vẫn điều khiển cho chiếc xe gắn máy cà tàng quẹo phải vào một con hẻm nhỏ, tránh phải đi vào đường một chiều để bị mấy tay dân phòng để ý.

“Tốt thôi, ông đây cũng phát ngán lên rồi. Nhà ngươi đủ năng lực thì cứ tự làm lấy. Mà này, cẩn thận đấy.”

Một thằng nhóc tóc vàng chóe xăm trổ đầy tay vừa từ phía sau xe của tôi lách qua, bằng vào con hẻm rộng không quá 3 mét này mà nó vẫn thể điều khiển chiếc xe gắn máy, đã được độ qua với cái ống bô kêu phành phành như muốn vỡ toác ra bất cứ lúc nào, một cách trơn tru như vậy thì quả là một tay lái lụa nhà nghề. Tôi gân cổ chửi với theo:

“Địt mẹ, đi đứng như cái cục cứt thế hả nhóc.”

Nghe giọng điệu thì có vẻ bực tức lắm. Thằng nhóc phía trước làm như không nghe thấy, phóng xe chạy thẳng.

“Hừ, ba cái thể loại trẻ trâu ấy thì chỉ được cái mẻ bên ngoài thôi. Chứ nó làm gì đủ gan mà dừng xe nói chuyện. Dẫu sao ông đây cũng học hết lớp ba, dù ở lại một năm nhưng so với tụi nó vẫn còn tốt chán. Há há, học hành cái mẹ gì, đem ra đời cứ như đống cứt. Biết thế ông chẳng cần phải tốn đến bốn năm chỉ để nhồi vào đầu mấy cái mớ trời ơi ấy đâu.”

Giọng ông não khề khà vang lên.

“Tất nhiên, tôi thấy mấy cái quyển sách giáo dục và đào tạo gì gì ấy mà, học xong là tôi đem đi chùi tất, chẳng thu được cái cốc khô gì. Thà tôi ra mấy cái quán sách vỉa hè, tìm vài quyển rẻ rẻ, tiểu thuyết hay hướng đạo đọc giết thời gian còn tốt hơn.”

Ra hết con ngõ nhỏ, là thấy ngay một con đường lát nhựa lớn khác, đi được chừng trăm mét, lại quẹo phải lần nữa, là đến một con hẽm đường bê tông bị bông tróc thê thảm, từng cái ổ gà to tướng, để lộ ra những viên đá trứng ngỗng nhìn mà rợn người, nếu có đứa nào sảy tay té xuống, nếu không dập tay chảy máu thì mới là chuyện lạ. Quanh co hơn trăm mét nữa, chỗ phía cuối đường bê tông là tới đường đất, nhìn qua phía tay trái có một bãi đất bỏ hoang, khu này dân nhặt phế liệu thường tự ý chia lô để tàng trữ mấy thứ lặt vặt, linh tinh mà cả ngày thu gom được. Chẳng ai biết bọn ấy thảo luận thế nào, nhưng xem chừng không nhẹ nhàng mà có được miếng đất đặt lưng đâu. Đoán chừng cũng phải tốn không ít nước bọt và chút máu mới chen vào đây được.

Giờ này đang lúc xế chiều, gió hiu hiu thổi nhẹ, cuốn theo cái mùi mốc thum thủm từ mấy đống phế liệu chung quanh bốc lên, trộn với mùi dầu máy, mùi rỉ xét và xú uế làm cho không khí lúc nào cũng mang dáng điệu của một cái nhà vệ sinh công cộng loại lớn. Ráng chiều bắt đầu tàn, từng chùm sáng đỏ ối tranh thủ chút không gian để tóa sáng, trước khi bị mây và màn đêm che lấp. Giờ này thì dân phế liệu còn chưa có về, ở đây chỉ còn lại mấy đứa trẻ con nhơ nhỡ, tụ tập với nhau chơi lò cò, hoặc nhảy dây hay trốn tìm. Đứa nào đứa nấy mặt mũi đen nhẽm, nhếch nhác. Có đứa trên trán còn dính một vết nhọ nồi to tướng nhưng vẫn hồn nhiên cùng đám bạn chơi đùa vô cùng thích chí.

Tuy cách đường lớn không xa nhưng ở đây không còn nghe thấy bất cứ tiếng xe cộ gì nữa, nếu thay cái bãi phế liệu này bằng một ngôi chùa khang trang thì chắc cũng chẳng ai phàn nàn gì, tuy thế nếu thật có một cái chùa ở đây thì quả là bất hạnh, nhìn lũ trẻ con đang nô đùa kia là đủ biết bố mẹ chúng chẳng có thiết tha gì Phật, Thiền, Đạo, Nghĩa gì đâu, chỉ cần no cái bụng đã là chuyện phải trăn trở rồi.

Chiếc Cub tôi đang cưỡi đây, trong mắt người khác chắc không đáng mấy đồng, nếu có thằng trộm nào vớ được cũng phải lắc đầu ngao ngán, có trộm được thì phải chi thêm một mớ tiền nữa để tân trang rồi mới có thể bán được, mà so ra thì tiền ấy chẳng bằng mua cha nó cái xe khác đi cho xong. Thế nhưng trong mắt tôi thì chiếc xe này chẳng khác gì siêu xe cả đâu, nhớ ngày xưa ông già phải đem vàng miếng xếp trước mặt chủ xe thì người ta mới chịu bán ấy chứ, lịch sử của nó cũng huy hoàng vãi ra đấy. Nhớ lúc ấy nhà tôi còn khá giả, một ngày ba bữa chẳng phải lo cơm gạo, thịt cá, cứ như cần là sẽ có, thật là sung sướng biết bao. Rồi thì ông già chết vì đau tim, không lâu sau đó bà già bị bắt vào trại cai nghiện, còn mình tôi chẳng biết trông vào đâu. Nhà cũng bị bọn đầu gấu tới xiết nợ hết cả. Tự nhiên không đâu từ một thằng chơi bời lêu lỏng cả ngày, chỉ có mỗi một việc là về nhà ăn cơm cho đúng giờ, biến thành một thằng khố rách áo ôm, đầu đường xó chợ. Đời thật chẳng ai lường được chữ ngờ.

Nhà thì chẳng còn gì, đối với một thằng mới 16 tuổi đầu đã phải bỡ ngỡ đi bụi như tôi thì quả là một hình phạt to lớn, may sao bữa đó chiếc Cub này tôi cho thằng em mượn đi tán gái, cho nên không bị bọn đầu gấu tịch thu mất. Nhiều khi không dằn lòng được, muốn bán chiếc Cub để có chút tiền ăn uống qua ngày, nhưng ngẫm lại nếu bán nó rồi thì thằng Hùng này còn lại gì đâu.

Nói thế cho oai chứ một khi bị rơi vào cảnh túng quẫn, ai đâu còn bận tâm đến mấy cái mớ quan niệm, đạo đức sảm chát như xơ mướp ấy. Nhờ lần cuối cùng tôi chia tay nó, là thời điểm 6 năm trước, hình như cũng trong tháng này hay sao ấy, không nhớ rõ nữa, chỉ biết hôm đó là hai tuần sau khi tôi ra đường ở. Khi ấy tôi đang chuẩn bị dắt chiếc Cub này đến tiệm cầm đồ bán, lấy ít tiền qua ngày thì bị bọn khốn kiếp Tư thọt bắt gặp, lúc đó cũng chính xác là hai tuần tôi chưa có ăn cái gì ra hồn, hai mắt thì mờ đục mở không lên, bụng đói meo hóp lại như thể da bụng và da lưng sắp sửa dính chặt lại với nhau, dắt xe mà cứ tưởng như xe đang dắt mình đi, bộ dạng lôi thôi lếch thếch không sao chịu nổi. Khi Tư thọt và mấy thằng đàn em của nó vịn tôi lại. Thật sự thì lúc đó tôi không nhớ mình thiếp đi lúc nào, sau đó không lâu thì có gì đó chảy vào miệng, hình như là sữa bò. Lâu nay tôi đâu thèm uống sữa. Nhà thì thừa mứa cả ra, sữa bột ngoại, bánh kẹo, socola ê chề ăn đến phát ngán. Thế mà lần đầu tiên tôi mới biết được sữa bò lại ngon đến như vậy, từng ngụm sữa trôi tuột vào cổ họng mang theo vị ngọt thanh và rất thơm, tôi ngậm ống hút và nút xuống theo vô thức, tự nhiên thấy hai mắt nóng lên như muốn khóc. Cố dằn lại để khỏi chảy nước mắt, sau khi đã tỉnh táo thì đã thấy có mấy người đang đứng hoặc ngồi trước mặt, gần nhất chính là Tư thọt. Khuôn mặt hình tam giác với cái cằm nhọn lún phún râu, kết hợp với cái mũi tẹt và đôi con mắt dài dẹp của nó làm toát lên cái vẻ đểu cáng và gian xảo. Thế mà ngày trước tôi không để ý đấy, thường ngày thì gặp tôi nó đều luôn miệng một tiếng là Cậu Hai, hai tiếng cũng là Cậu Hai, lúc ấy tôi mải chơi nên có để ý gì đâu, chỉ thấy người này hòa thuận dễ gần cho nên không có chút ý tứ bài xích nào. Tư thọt là đàn em của ông già tôi, tuổi nó so ra còn hơn ông già một hay hai gì đó, nhưng vì là đàn em nên tôi vẫn cứ gọi là “nó” thôi.

“Hùng, mày tỉnh rồi à? Thật là, mày để bọn anh phải tìm suốt, khổ cực ra sao có biết hay không?”

Vừa nói vừa lắc đầu quầy quậy ra bề bất mãn lắm.

Rồi câu chuyện giả tạo tay bắt mặt mừng của nó bắt đầu diễn ra, tôi vẫn cứ ngây thơ tin rằng Tư thọt sẽ giúp đỡ mình qua cơn hoạn nạn, y như ngày trước ông già tôi đã từng vươn tay ra với nó. Nhưng rồi khi nghe được rằng chiếc Cub này cũng là do ông già tôi ngày trước thiếu nợ nó cho nên bây giờ tịch thu lại thì tôi mới vỡ lẽ, hóa ra thằng này nào có tốt đẹp gì, chờ tôi uống hết hộp sữa thì kêu bọn đàn em tống tôi ra đường, sau đó kéo cửa đánh sầm lại. Bên trong còn kèm theo tiếng cười hô hố của nó và tụi đàn em khốn kiếp. Lần đó là lần tôi bị sỉ nhục đầu tiên và cay đắng nhất trong đời cho tới thời điểm này, hai mắt nổ đóm đóm như muốn ngất lịm đi, mà có một phần vì cú ném quá mạnh, đầu tôi đập phải một cục đá trên đường. Sau khi lồm cồm bò dậy, trong cơn tức tôi tôi hét tướng lên:

“Tổ cha thằng thọt, coi như tao bố thí cái xe cho mày đấy. Thù này ông sẽ trả cho bằng hết.”

La thì la thế thôi chứ tụi bọn nghe được hay không thì không biết. Trời lúc ấy đang lúc mưa tầm tã, sấm giật liên hồi, mây đen che kín mít. Sài Gòn những năm 70 ấy thì biết kiếm đâu ra việc làm, cơm gạo mà qua bữa đây. Lại thêm một thằng chẳng có nghề ngỗng gì, tay chân thì lóng ngóng như con chó cảnh, tình cảnh lúc ấy quả là vô cùng bi đát.

Sau này tôi mới biết, khi ấy lấy cái xe chỉ là trò phụ của nó thôi. Xỉ nhục tôi mới là màn khoái trá nhất của nó.

Tư Thọt tên gì thì tôi không biết, nhưng nó xếp hàng thứ Tư thì trên nó còn có thêm hai người nữa, tất nhiên anh cả của tụi nó là ông già tôi, Trương Nhật Long. Tôi là Trương Nhật Hùng, ông già đặt tên còn chọn ý nghĩa nữa chứ, hừ Rồng là phải lớn hơn Gấu, chẳng ai dám bàn cãi gì nhiều. Ngày đó ông già làm công cán gì thì tôi không biết, nhưng thinh thoảng lại có mấy người mang vẻ mặt khúm na khúm núm mang đến nào quà cáp, tượng phật ngọc bích và vàng bạc rất nhiều. Ông già chỉ có mỗi việc quát tháo đám đàn em và ngồi đếm tiền thôi. Nhớ một dạo trên miệng ông già còn phì phèo cả một điếu thuốc to tướng, có mùi gay gay nhưng lại thơm hơn thuốc lá bình thường rất nhiều. Dưới tay ông già có ba người thạo việc nhất, gồm Hai rằn, Ba chín ngón và Tư thọt.

Hai rằn dáng người cao to, da đen nhẻm như khúc củi, mắt hơi xếch và nói giọng ồm ồm như loa vỡ. Trong số ba người thì Hai rằn giỏi đánh đấm nhất, biệt danh Hai rằn được gọi là vì sau một lần đánh lộn với đám côn đồ ở quận Nhứt, Hai rằn bị một thằng dùng roi sắt đập trúng mặt, dù đã né tránh rất nhanh nhưng cái roi ấy cũng kéo một đường xẹo dài trên mặt hắn cho tới nay. Anh em trong hội mới theo đó tránh từ xẹo mà đổi qua dùng từ rằn. Tất nhiên lần đó cả hội thất bại, đám giang hồ quận Nhứt chẳng phải dễ chọc vào, dẫu ông già có mấy lần muốn mở rộng địa bàn nhưng đều bị đánh bật ra. Tuy vậy với uy danh Hai rằn thì bọn đàn em có được xách dép cũng là một vinh dự rồi.

Ba chín ngón thì không như vậy. Người nhìn bên ngoài cũng rất cao lớn, có điều thân hình thì ốm nhom như que củi, hai gò má hóp lại trông chẳng khác gì nạn dân vừa chạy ra từ nạn đói năm Ất Dậu vậy. Tuy thế nhưng uy danh của gã cũng không kém Hai rằn, chính là cánh tay đắc lực của ông già tôi. Mọi công tác thu hồi nợ và tuyển dụng nhân sự đều do một tay người này quản lý. Trước thì người này không phải chỉ có 9 ngón như bây giờ, chẳng là lúc vừa ăn cái tết năm 68 xong, theo lệnh của ông già tôi, Ba chín ngón có dẫn theo một đám đàn em đi xiết nợ của một con nợ trên đường Nguyễn Bỉnh Khiêm ở quận Nhứt. Ma xui quỉ khiến thế nào, hôm ấy gã lại nhậu say bét nhè, vác theo cây ba toong, leo lên xe phóng một mạch, vừa tới nơi đã cũng đàn em đập phá bừa bãi. Chẳng ngờ người bị xiết nợ cũng là dân có máu mặt, trong nhà lại đang ẩn nấu không ít côn đồ bặm trợn, tốp hơn 7 đứa do Ba chín ngón dẫn đầu nhanh chóng bị hạ gục. Sau khi bị đập cho một trận no đòn thì bị trói lại như cái bánh tét, con nợ chỉ cho một tên đàn em của Ba chín ngón chạy về báo tin. Biết chuyện, ông già tôi đùng đùng nổi giận, ngay lập tức gọi Hai Rằn và hàng chục anh em lực lưỡng nhanh chóng tập hợp rồi chạy thẳng đến nơi xô xát. Khi hai tốp người giáp mặt, nhân số có đến hơn trăm, đang hung hăng trợn mắt nhìn nhau. Khi ấy bà con chòm xóm chung quanh ai nấy vội vội vàng vàng đóng kín cửa sổ, cửa ra vào, thậm chí có người còn trốn vào cả toilet để khỏi bị liên lụy. Ai nấy đều cho rằng chắc chắn ở đây sẽ nẩy ra một hồi chém giết rúng động Sài Gòn mất thôi. Ông Trương Nhật Long vậy mà rất nhàn nhã, ông mặc bộ vét xám, thắt cà vạt hiệu con ưng vàng óng, chân mang giầy da đánh véc-ni bóng loáng, trông vô cùng sang trọng, không nhanh không chậm chỉ kêu Hai rằn đi sau rồi bước vào căn nhà, đám côn đồ bặm trợn bên ngoài vẫn không dám có chút động tĩnh gì khác.

Trải qua thời gian bao lâu không rõ, nhưng khi đi ra rõ ràng vẫn là ông già tôi, Hai rằn và Ba chín ngón. Hai người đi trước chẳng có chút sứt mẻ gì, Ba chín ngón thì cúi gầm đầu, trên tay trái bị băng bó rất kỹ, còn có thể thấy vài vệt máu rỉ ra thấm ướt một bên miếng bông, mấy tên đàn em của gã, kẻ này dựa vào người kia, đều khập khiễng kéo nhau thếch lếch bước ra theo. Qua lời kể lại thì hôm ấy Ba chín ngón vì để tạ lỗi đã tự chặt đứt một ngón tay của mình, đám đàn em còn lại thì mỗi đứa bị đánh què một chân. Chủ nhà sau khi vồn vã cám ơn ông già tôi thì rất lịch sự tiễn ông lên xe ra về, khoản nợ cần thanh toán khi trước thì chẳng thấy ai nhắc tới nữa.

Trong đám đàn em của Ba chín ngón đi cùng bữa hôm ấy, có Tư thọt là vậy. Tên này được cái nhanh mồm nhanh miệng, rất giỏi việc nhìn sắc mặt người khác để làm việc, mà cái quan trọng nhất chính là em gái của nó chính là mẹ kế của tôi sau này.

Về sau này thì ông già tôi lên bàn thờ, bà già bị bắt vào trại cải tạo, mấy bà mẹ kế khác thì chia chác, chôm chỉa tài sản sau đó chuồn thẳng. Tư thọt rất nhanh đã móc nối với một tay anh chị khác ở quận Nhứt, trong một âm mưu thâm hiểm đã đẩy Hai Rằn vào chỗ chết, chỉ vì Hai Rằn không chịu đi theo nó, kết quả Hai Rằn bị Biệt Động Sài Gòn bắn chết vào năm 1972. Ba chín ngón thì tuổi tác lớn nhất, khi ấy cũng đã chán nản bỏ về quê ở miền Tây chăn vịt. Quả thật trò đời nó chóng vánh như mây bay, đến khi nhận ra thì người ta cũng phải giật mình.

Thời gian đầu sống chẳng dễ dàng gì. Khi đói quá thì trộm cướp, giành giật. Túng quá thì ngủ bụi, hoặc gầm cầu. Lúc ấy, sống chỉ để qua ngày và nuôi căm thù mà thôi. Cứ hễ đổi trời là cái sẹo trên đầu lại đau nhứt không sao chịu được, nhưng nhờ vậy mà tôi không bao giờ quên cái thù này với thằng Tư thọt. Và cũng từ đó, bỗng nhiên phát hiện ra ông não chết bầm này. Giải thích như vậy cho dễ hiểu, chứ thực ra tôi cũng chẳng biết phải gọi lão ta là gì, cứ thi thoảng trong đầu tôi lại vang lên giọng nói của lão, lúc thì cả hai trò chuyện với nhau, lúc lại cãi nhau chí chóe, nhưng bù lại tôi không còn thấy cô đơn tịch mịch nữa.

 

 

Chap 19: Ra khơi

Quan tri huyện phủ Thuận Hóa hiện tại tên Lý Kha Kiêm, là một người có năng lực bình thường. Tuy không tài giỏi gì nhưng cũng không phải loại quan quá tham lam, hoặc sách nhiễu dân chúng.

Ông quan này dáng người thấp lùn, cái bụng thì to tướng như bà đẻ đến cử tháng thứ bảy. Trên mặt, hai cái má to vệu như hai tảng thịt cứ lúc lắc mỗi khi ông ta di chuyển. Nhờ vẻ ngoài buồn cười cùng khuôn mặt luôn cầu tài của ông ta nên rất được lòng quan trên. Một lý do quan trọng nữa làm cho ông ta tại vị ở cái ghế tri huyện này đến hơn 5 năm, chính là người chị họ con chú bác, cũng tức con gái của anh ruột bố ông ta đang là thiếp yêu của quan Tổng Đốc của Châu Thận Hóa này.

Mang tác phong rề rà chậm chạp, trong suốt thời gian tại chức, quan tri huyện chỉ làm được có vài công chuyện được đánh giá qua loa, song nhờ vậy cho nên lại rất ít mắc sai phạm. Mà người trong quan trường thường nói: Không sai phạm chính là lập công. Lý Kha Kiêm này ấy vậy mà vô tình lại hiểu rất rõ đạo lý này. Vị quan này chỉ an phận một nơi, hằng ngày xử lý một ít sự vụ tạp nham, sau đó thì tới quán trà đàm đạo với mấy người trí thức nhàn rỗi, hoặc kéo vài tên thân tín dạo một vòng quanh chợ cho hết ngày hết buổi. Cuộc sống xem chừng vô cùng nhàn tản, quan cũng rất chi là vừa lòng.

Nhưng sự việc xảy ra vài ngày trước ở làng Vĩnh Ngư đã làm kinh động đến không ít vị tai to mặt lớn. Ngay cả Thái Thượng Hoàng đang tuần du phương Nam cũng nghe được tin tức, lúc ấy vô cùng lo lắng, một mạch cho ngựa chạy xuyên đêm để tới nơi này.

“Theo báo cáo chính thức từ quan Tổng Đốc thì có tổng cộng 82 trên 93 ngư dân đã tử nạn tức khoảng hơn một phần ba ngư dân của làng Vĩnh Ngư đã ngã xuống, 10 trên 11 tàu đánh cá lớn bị phá hủy hoàn toàn, trang thiết bị và vật tư tổn thất nhiều vô số … Thiệt hại cả người lẫn vật có thể nói là vô cùng to lớn. Hừ, giỏi nhỉ?”

Quan tri huyện Lý Kha Kiêm lúc này đang bò rạp trên mặt đất, run lẩy bẩy. Khuôn béo bệu của ông ta cơ hồ dán sát vào nền đất. Ngồi phía trước, một tay đang tì vào ghế thái sư, là một người đàn ông trung niên, dưới cằm có một chòm râu ngắn và đều, hai mắt sáng ngời, tướng mạo bệ vệ, uy nghiêm. Trên tay còn lại, ông ta đang cầm một tờ trình, là báo cáo từ quan Tổng Đốc phủ Thuận Hóa vừa dâng lên, giọng càng lúc càng đanh lại, biểu lộ vẻ tức giận.

“Quan phủ huyện Thuận Hóa, Lý Kha Kiêm. Nhà vua giao cho ngươi cai quản vùng này, tức là giao trọng trách chăm sóc con dân trăm họ vào tay ngươi. Ấy vậy mà nhà ngươi đã làm gì? Khi bao nhiêu là con dân của nhà vua tử nạn thì nhà ngươi đang ở nơi nào? Đang làm việc gì? Tại sao đến tận bây giờ mới báo cáo cho ta biết? Quan Tổng Đốc ở nơi nào?”

Người đàn ông trung niên lại tiếp tục truy vấn, trong giọng điệu bắt đầu mang sự tức giận.

Quan Tổng Đốc lúc này cũng đang quỳ rạp bên cạnh quan Kiêm, trên đầu toát đầy mồ hôi, hạt nào hạt nấy to như đậu xanh. Ông ta tuy nghe được lời truy vấn nhưng đến bây giờ vẫn im thin thít. Chỉ biết quỳ mọp một chỗ run rẩy.

“Khởi bẩm Thái … Thái Thượng Hoàng. Bọn dân đen, à không, những con dân của bệ hạ đều cũng là máu mủ của hạ quan, hạ quan nào dám chểnh mãng không chăm sóc được ạ. Chỉ là năm nay, đã có thầy phán rằng mẹ biển tức giận lắm, mẹ không cho lũ dân làng ấy quá tham lam, bắt hết con cháu của mẹ. Hạ thần đã khuyên can nhưng bọn chúng đâu có nghe, cho nên … cho nên …”

Quan Kiêm lắp bắp nói như bị người ta xiết cổ, cứ thều thào không thành tiếng.

Vậy ra người đang tra khảo hai vị quan to nhất vùng này lại là Thái Thượng Hoàng Trần Anh Tông. Thế cho nên cả hai mới có bộ dáng run rẩy cứ như chuột nhắt gặp mèo mun vậy. Lúc này hai hàng lông mày của Thái Thượng Hoàng dựng lên, giận tím mặt quát lớn:

“Nhà ngươi vẫn còn ở đó già mồm bao biện hay sao? Lại dám đem mấy chuyện mê tín để qua mặt ta hay sao? Lính đâu, mau lột áo mão của hắn, đánh 50 roi, rồi đem nhốt vào nhà lao cho ta.”

Liếc thấy quan tri phủ bị lôi đi sềnh sệch chẳng khác nào một con heo nái, và tiếng kêu thảm thiết của hắn cũng y như tiếng heo bị chọc tiết, quan Tổng Đốc cười lạnh một cái, nghĩ thầm:

“Đúng là thằng ngốc, đã làm quan bao nhiêu năm mà vẫn ngốc không sao sửa được. Thái Thượng Hoàng đang nổi giận đùng đùng thế kia, nhà ngươi lại đem dầu đổ thêm vào lửa, đúng là tự tìm chết. Thôi thì hắn sung sướng đã lâu, như vậy là đủ rồi. Về bà vợ bé có cằn nhằn cũng chẳng làm gì được mình.”

Lúc này, quan Tổng Đốc mới nhẹ nhàng lên tiếng:

“Khởi bẩm Thái Thượng Hoàng, tuy lúc đó hạ quan đang bận phải xử lý sự vụ ở xa, không thể phân thân về được, nhưng khi nghe tin dữ thì lập tức tổ chức ngay một đội binh sĩ tức tốc đi trong đêm để tiếp cận hiện trường nhằm tra xét và thu thập tin tức. Đồng thời phái gia sư thân tín ngày đêm thúc ngựa về làng Vĩnh Thái để trấn an dân chúng, và hỗ trợ tiền bạc, lương khô cho những nhà có người thân gặp nạn. Hạ quan bởi vì trong người mang bệnh thấp khớp, cho nên đã làm lỡ mất hai ngày thời gian. Kính mong Thái Thượng Hoàng trách tội thật nặng.”

Quan Tổng Đốc trên thực tế đã làm được tích sự gì đâu. Song lại hiểu được rằng trên thân trâu lớn không đếm xỉa đến những con vắt nhỏ bé. Cho nên chỉ nói nước đôi, đùn đẩy trách nhiệm cho người khác.

“Quan huyện tuy thân là phụ mẫu nhưng hành sự chậm chạp, ấy đều là do lỗi của hạ quan đã không chú tâm đốc thúc. Tội của quan tri huyện cũng có một nửa trách nhiệm là của hạ quan, kính mong Thái Thượng Hoàng trách phạt. Hạ quan chỉ xin một ân huệ, đó là có thể làm quân tiên phong, đứng mũi sóng, đi đầu ra khơi lập công chuộc tội.”

Giọng ông ta hào sảng, rõ ràng. Đôi con mắt nhòe lệ, tỏ rõ quyết tâm thà chết không thôi của một bậc trung thần điển hình. Như thể cái ý chí này đã được nung nấu từ mấy chục năm về trước rồi vậy.

Thái Thượng Hoàng nghe vậy sắc mặt đã có phần dịu lại, tuy còn muốn tra khảo thêm nữa nhưng thấy không đem lại nhiểu kết quả, cho nên ra lệnh cho tất cả lui xuống. Ngày hôm ấy, ngài chỉ ăn một bát cơm, vừa ăn vừa suy tư thật lâu.

Quan Tổng Đốc vừa được cho lui ra, như được đại xá. Nhanh chóng gọi thân tín đến dặn dò đủ điều.

“Nhà ngươi, phải làm thế này … Thế này … Còn nữa, hãy gọi …”

Sau khi tên gia nhân thân tín nhận lệnh rời đi, lúc này ông ta mới nhìn lại mình, chỉ thấy từ đầu đến chân đều đã ướt sũng, áo mão đã bị mồ hôi toát ra làm ướt một mảng lớn. Biết mới rồi suýt tí nữa là toi cơm, ứng phó không khôn khéo một tí có lẽ cái mạng già của lão cũng đã đi theo quan tri huyện luôn rồi. Thật là hú vía. Sau đấy quan Tổng Đốc mới khập khiễng leo lên xe ngựa quay về phủ.

Mấy ngày sau, đích thân Thái Thượng Hoàng ra lệnh tổ chức đội diệt cá dữ, bao gồm bên phía Nguyễn Kỳ là 8 tàu đánh cá loại lớn đã qua tu bổ, cùng 4 tàu chiến được trang bị súng thần công. Tàu chiến này kết cấu vững chắc, kích thước lại to lớn. Tàu đánh cá của ngư dân, vừa được trang bị lâm thời như của đội Nguyễn Kỳ thì sức chiến đấu rõ ràng là thấp hơn rất nhiều.

Nguyễn Kỳ sau khi nhận được tin Thái Thượng Hoàng giá lâm, đã cùng trưởng làng chài nhanh chóng đến yết kiến. Dân làng kéo theo rất đông, hầu như tất cả mọi người đều rủ nhau đi cả. Rầm rộ một hồi lâu, rốt cuộc ai nấy đã có thể tận mắt chứng kiến người mang quyền lực cao nhất cùa đất An Nam này, Thái Thượng Hoàng Trần Anh Tông.

Ngài lệnh cho mọi người không cần đa lễ, sau đó cho gọi Nguyễn Kỳ cùng Lê Tín đến để thương nghị. Lê Tín là hạm đội trưởng của doanh Thần Ngư, bốn chiếc chiến thuyền đang đậu ngoài kia đều thuộc quyền quản lý của anh ta cả.

Lê Tín lúc này bước lên một bước, cúi người bẩm báo:

“Khởi bẩm Thái Thượng Hoàng. Lần này Tín mang theo 4 chiến thuyền hai tầng, 8 súng thần công, 95 thủy binh tinh nhuệ. Trong đó, hiệu úy 16 người, thống lĩnh 4 người và hơn 20 mươi phu tạp dịch. Dự kiến sẽ xuất phát vào hai ngày nữa.”

Dưới thời vua Trần, quân thần không câu nệ các lễ nghi rườm rà, vua tôi đều có thể ăn nói vui vẻ thân thiết. Cho nên Lê Tín khi báo cáo vẫn xưng tên của mình.

Thái Thượng Hoàng gật đầu, nhìn qua Nguyễn Kỳ đang đứng bên cạnh. Thấy người này tuy thái độ vô cùng kính cẩn, nhưng lại toát lên vẻ cứng cỏi và thật thà, trong lòng ngài cũng thấy vừa lòng lắm, lúc này mới lên tiếng hỏi:

“Nguyễn Kỳ, đội trưởng đội tàu số 3. không biết khanh đã chuẩn bị như thế nào rồi? Đã sẵn sàng lên đường cùng với hạm đội của Tín tướng quân hay chưa?”

Trong lòng Nguyễn Kỳ run lên một cái, nhưng không có biểu hiện gì khác thường. Khẽ cúi người bẩm báo:

“Khởi bẩm Thái Thượng Hoàng, đội tàu do dân đen thống lĩnh đã chuẩn bị tốt từ hai ngày trước, vốn dĩ đã sớm ra khơi, song lại nhận được thông báo của Tổng Đốc đại nhân, nên đành phải nán lại tại cảng. Đội tàu của thần gồm 8 tàu đánh cá, được trang bị 8 máy phóng lao trên mỗi tàu, hơn 400 trăm mũi lao và 76 anh em, đều đã chuẩn bị kỹ càng rồi.”

Thái Thượng Hoàng gật gật đầu, lại quay sang nói với Lê Tín:

“Nhà ngươi xem, người ta chỉ là thường dân nhưng hành sự lại mau lẹ và gọn gàng như vậy. Không biết Tín tướng quân suy nghĩ ra sao?”

Ngài vừa nói vừa nhoẻn miệng cười vô cùng thâm ý.

Lê Tín thấy ớn lạnh trong lòng, thầm mắng tên dân đen kia lắm mồm phá hư chuyện. Vội vàng trả lời:

“Làm cho sự vụ phải chậm trễ, mong Thái Thượng Hoàng trách tội. Cũng xin học hỏi thêm từ anh Kỳ đây rất nhiều. Mong anh giúp đỡ nhiều hơn trong chuyến tới.”

Lê Tín nói vẻ rất thành khẩn, nhưng không biết chuyến tới là chuyến nào.

Ba người ở trong trướng bàn bạc kế hoạch tới hơn nửa ngày, sau đó hai người Tín, Kỳ mới lĩnh mệnh rời đi. Sắc mặt Nguyễn Kỳ lại mang theo một chút vẻ hưng phấn, hóa ra ông được Thái Thượng Hoàng đích thân sắc phong làm Thống Lĩnh đội Hải Báo số 9, bởi vì trong doanh đã có tới 8 đội tàu mang tên này rồi. Tất nhiên dưới tay Nguyễn Kỳ vẫn chẳng có thêm binh lính nào, mà vẫn là những tàu của ngư dân trong làng, cái danh hiệu Thống Lĩnh này chẳng qua là để xưng hô cho nó hợp thức hóa mà thôi, chứ không có thực quyền gì cả. Tuy vậy, điều này vẫn làm cho Nguyễn Kỳ hưng phấn không thôi.

Dưới áp lực không lời từ Thái Thượng Hoàng, Lê Tín đành đốc thúc binh sĩ dưới tay đẩy nhanh tốc độ chuẩn bị vật tư trang thiết bị để ra khơi, không dám chậm trễ giây phút nào nữa. Ngay ngày hôm sau đã tập hợp cùng đội tàu của Nguyễn Kỳ.

Cả đội tàu sau khi tập hợp tạo nên tràng cảnh cực kỳ hùng tráng. Sau khi nhận được hiệu lệnh, Nguyễn Kỳ cho đội tàu của mình xếp thành hai hàng ngang, đứng phía sau đội tàu chiến của Lê Tín. Thái Thượng Hoàng đích thân làm lễ ra khơi, nhận từ tay trưởng làng ba nén nhang, khấn nguyện cho chuyến này ra khơi thành công mỹ mãn, lại dâng lên một mâm lễ vật trang trọng. Sau cùng, ngài cho bắn 9 phát pháo hiệu, lấy khí thế đó mà nhổ neo ra khơi. Bà con dân chúng reo hò vang trời dậy đất, trong lòng kích động không thôi.